1. Khi nào di chúc miệng hợp pháp?
Nhằm tránh trường hợp những người muốn nhận di sản thừa kế của người mất lừa dối, gian lận để nhằm không thể hiện đúng ý chí của người để lại di chúc nhằm chiếm đoạt tài sản thì di chúc miệng phải đảm bảo các điều kiện được quy định trong Bộ luật dân sự thì mới phát sinh hiệu lực pháp luật, đó là những điều kiện đảm bảo giá trị pháp lý của di chúc miệng. Theo đó tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, di chúc miệng chỉ có thể được quyền lập trong khi không thể lập được di chúc bằng văn bản. Đó là khi tính mạng của một người bị cái chết đe dọa. Dựa trên tính chất bị đe dọa về tính mạng để xác định người này có khả năng thiết lập một văn bản di chúc hay không để xác định di chúc bằng lời nói của họ lúc đó là hợp pháp.
Thứ hai là di chúc bằng miệng phải được thể hiện trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng. Tuy nhiên người làm chứng phải đáp ứng những điều kiện quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó những người không được làm chứng cho việc lập di chúc bao gồm: người được thừa kế theo di chúc miệng, bố, mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi của người lập di chúc; người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản trong di chúc hoặc người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không được làm chứng cho việc lập di chúc.
Thứ ba là người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự. Di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương do vậy nó phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, một trong số đó là điều kiện có năng lực hành vi dân sự. Theo quy định của pháp luật, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, do vậy nếu không mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì được phép lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
Thứ tư là người lập di chúc không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép. Tức là người lập di chúc phải tự nguyện trên cả 2 phương diện là ý chí là lý trí.
Như vậy nếu không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện nêu trên thì di chúc miệng sẽ không đảm bảo điều kiện pháp sinh hiệu lực và sẽ không được công nhận, khi đó tài sản của người chết để lại sẽ phải phân chia theo quy định của pháp luật về thừa kế theo pháp luật.
2. Có thể nhờ người khác đi công chứng hộ di chúc được không?
Căn cứ theo Điều 56 Luật Công chứng năm 2014 thì việc công chứng di chúc phải do người lập di chúc tự bản thân mình yêu cầu công chứng di chúc và không được phép ủy quyền cho người khác. Do đó việc lập di chúc xong nhưng lại nhờ người khác đi công chứng hộ mặc dù có sự ủy quyền nhưng vẫn sẽ không được chấp nhận.
Trường hợp công chứng viên nghi ngờ rằng người lập di chúc không đủ khả năng lập di chúc do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép, thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó.
Khi muốn sửa đổi, thay đổi, bổ sung, thay thế hay hủy bỏ 1 phần hoặc toàn bộ di chúc đã được công chứng thì vẫn có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó.
3. Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về di chúc miệng
So sánh với các quy định của Luật Thừa kế Trung Quốc 1985 tại Điều 17, ngoài ghi nhận di chúc miệng, pháp luật thừa kế của Trung Quốc còn ghi nhận di chúc chưa được pháp luật thừa kế Việt Nam ghi nhận đó là di chúc được ghi lại trong băng âm thanh hay video với ít nhất hai người làm chứng.
Quy định này khá hay mà pháp luật của chúng ta nên học hỏi, bởi lẽ trong thời đại công nghệ phát triển hiện nay, việc thu âm hay ghi hình là chuyện hết sức bình thường, chúng ta nên ứng dụng những thành tựu của công nghệ vào pháp luật để pháp luật không bị lạc hậu so với sự phát triển của xã hội
Việc vận dụng các thiết bị, công nghệ ghi âm, ghi hình là cần thiết trong việc xác định ý chí của người quá cố, bởi như đã phân tích, việc ghi nhớ lâu của người làm chứng là bất khả thi, đôi khi giữa những người làm chứng còn xảy ra mâu thuẫn về trí nhớ của mình; thêm vào đó là sự khách quan trong nội dung ghi chép của di chúc miệng là khó có thể bảo đảm được
Do đó, sử dụng thiết bị, công nghệ ghi âm, ghi hình là cách đảm bảo chính xác ý chí của người quá cố. Tuy nhiên, việc sử dụng các công nghệ ghi âm, ghi hình cũng phải rõ ràng và dự liệu các trường hợp ghi âm, ghi hình xâm phạm đến ý chí của người lập di chúc. Giải pháp tốt nhất là nhà làm luật cần nghiên cứu áp dụng ghi âm, ghi hình trong xác định ý chí của người lập di chúc về các trường hợp không được sử dụng ghi âm, ghi hình, về điều kiện chất lượng âm thanh, video, … như đã đề cập ở phần trên.
Theo quy định tại Điều 1663 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan có quy định về vai trò của cơ quan nhà nước trong quá trình hình thành di chúc miệng hợp pháp, theo đó, người lập di chúc miệng cũng phải rơi vào những hoàn cảnh đặc biệt (đang có nguy hiểm chết người đến nơi, hoặc trong thời gian chiến tranh hoặc dịch bệnh, một người bị ngăn trở trong việc lập di chúc của mình dưới bất kỳ dạng nào khác trong số những hình thức đã quy định); trên cơ sở đó họ thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng có mặt cùng một lúc.
Pháp luật dân sự Việt Nam có thể ghi nhận điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp pháp trên cơ sở tham khảo pháp luật dân sự Thái Lan nêu trên, theo đó, trường hợp những người làm chứng có mặt tại thời điểm một người thể hiện ý chí cuối cùng mà có điều kiện tiếp cận công chứng viên, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực khác ngay sau khi người chết thể hiện ý chí cuối cùng thì phải đến ngay một trong những cơ quan này để họ ghi nhận ý chí cuối cùng đó, đồng thời ghi nhận thời gian, địa điểm và hoàn cảnh lập di chúc miệng. Sau khi Công chứng viên, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực ghi nhận di chúc miệng, những người làm chứng ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản đó. Lúc này, không chỉ chữ ký, điểm chỉ của người làm chứng được công chứng, chứng thực mà cả nội dung di chúc cũng như việc người làm chứng ký, điểm chỉ cũng có cơ sở rõ ràng hơn.
Xem thêm: Quy định của pháp luật về di chúc, di sản, thừa kế tài sản
Trên đây là tất cả các thông tin về Khi nào di chúc miệng hợp pháp ? Nhờ người khác đi công chứng hộ thì di chúc có đúng luật ? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và mong muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo, giúp quý khách giải đáp các vấn đề pháp lý trong trường hợp cụ thể. Nếu quý khách còn gặp vướng mắc về mọi vấn đề pháp lý, quý khách hoàn toàn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc!
Ngoài ra nếu quý khách có nhu cầu muốn báo phí dịch vụ, quý khách có thể lựa chọn gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!