- 1. Ai có quyền nuôi con khi chấm dứt mối quan hệ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn hay không?
- 2. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ chấm dứt mối quan hệ sống chung như vợ chồng, chưa có đăng ký kết hôn
- 2.1 Nghĩa vụ cấp dưỡng:
- 2.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con:
- 2.3 Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:
- 3. Cách thức thực hiện yêu cầu cấp dưỡng cho con khi chấm dứt mối quan hệ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi:1900.6162
1. Ai có quyền nuôi con khi chấm dứt mối quan hệ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn hay không?
Theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì sẽ giải quyết hậu quả như sau:
Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.
Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Theo đó, dù có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng nam, nữ không đăng ký mà chỉ sống chung với nhau như vợ chồng thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng. Nhưng quyền và nghĩa vụ với con vẫn được xác lập. Theo đó, khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng nêu rõ: Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Tuy nhiên, trong trường hợp con chung dưới 36 tháng tuổi thì quyền nuôi con sẽ được ưu tiên cho người mẹ, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con (theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Như vậy, trong trường hợp này của bạn nêu trên, con chung giữa hai người là một bé gái 01 tuổi, tức là dưới 36 tháng tuổi. Do đó, bạn là người mẹ sẽ được ưu tiên trực tiếp nuôi dưỡng con, trừ trường hợp bạn không có đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc bạn và người đàn ông là cha đứa bé có sự thỏa thuận khác phù hợp hơn.
2. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ chấm dứt mối quan hệ sống chung như vợ chồng, chưa có đăng ký kết hôn
Theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có thể hiểu cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này. Để xác định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ trong trường hợp hai người sống chung như vợ chồng và không đăng ký kết hôn thì cần căn cứ tại các Điều 107, Điều 110 và Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể được quy định như sau:
2.1 Nghĩa vụ cấp dưỡng:
- Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
- Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.
2.2 Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con:
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
2.3 Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng:
Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
- Người thân thích;
- Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
- Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
- Hội liên hiệp phụ nữ.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Như vậy, căn cứ quy định trên bên nữ (người mẹ) hoàn toàn có quyền yêu cầu bên nam (người cha) thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Mức cấp dưỡng trong trường hợp này sẽ được xác định căn cứ theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cụ thể, mức cấp dưỡng được xác định theo thỏa thuận của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó căn cứ vào:
- Thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.
Hiện nay, pháp luật không ấn định một con số cụ thể cho mức cấp dưỡng mà đang thực hiện theo thỏa thuận của các bên. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Và khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Cách thức thực hiện yêu cầu cấp dưỡng cho con khi chấm dứt mối quan hệ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn
Cấp dưỡng được hiểu là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản, để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu. Bởi vậy, để yêu cầu cấp dưỡng cho con khi nam, nữ không phát sinh quan hệ hôn nhân thì bên yêu cầu cấp dưỡng phải chứng minh được quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng giữa đứa trẻ và người được yêu cầu cấp dưỡng. Trong trường hợp này, để được yêu cầu cấp dưỡng thì phải có quyết định xác nhận cha con để xác định quan hệ huyết thống.
Thủ tục xác định quan hệ cha, mẹ, con được thực hiện như sau:
Thứ nhất, bên nữ (người mẹ) chuẩn bị một bộ hồ sơ được quy định cụ thể tại Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 gồm:
- Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con (theo mẫu);
- Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con như kết quả xét nghiệm, giám định của cơ quan y tế có thẩm quyền. Nếu không có thì văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con và có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ này.
Thứ hai, người mẹ mang bộ hồ sơ nộp tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhận cha, mẹ, con được nêu tại Điều 24 Luật Hộ tịch:
- Tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.
- Tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người được nhận là cha, mẹ, con khi việc xác định quan hệ huyết thống có dấu hiệu nước ngoài như:Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;Giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;Giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau;Giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài;Giữa người nước ngoài với nhau mà một hoặc cả hai bên thường trú tại Việt Nam.
Thời gian giải quyết: Theo khoản 2 Điều 25 Luật Hộ tịch thì nếu nộp hồ sơ ở Ủy ban nhân dân xã thì thời gian giải quyết là 03 ngày làm việc nhận đủ giấy tờ, không có tranh chấp và nhận thấy đúng là cha, mẹ, con. Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.
Nếu thuộc trường hợp có yếu tố nước ngoài, trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; công chức tư pháp sẽ xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân huyện trong thời gian 07 ngày. Đồng thời gửi Ủy ban nhân dân xã nơi thường trú của người được nhận cha, mẹ, con niêm yết trong 07 ngày. Sau thời gian này, nếu thấy đủ điều kiện thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện sẽ giải quyết việc đăng ký nhận cha, mẹ, con.
Sau khi được công nhận là cha, mẹ, con thì người mẹ hoàn toàn có quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con. Nếu người cha trong trường hợp này trốn tránh nghĩa vụ thì có thể khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để buộc người này phải thực hiện nghĩa vụ của mình.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Không có đăng ký kết hôn thì có quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con khi không còn chung sống ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê