1. Sau khi ly hôn có quyền khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng hay không?

Chào luật sư, Ngày 29-7-2016 tôi và chồng tôi nhận được quyết định thuận tình ly hôn do tòa án xét xử. Nhưng lúc ra tòa ly hôn,tôi nhận nuôi và không yêu cầu chồng tôi chu cấp cho hai con chung. Hiện nay vì tôi gặp khó khăn khi chu cấp tiền trang trải cuộc sống cho hai cháu. Nên tôi muốn làm đơn yêu cầu tòa án giúp tôi đòi trợ cấp cho con được không.
Đơn khởi kiện tôi phải viết như thế nào ? Và tôi có thể đòi chu cấp tính từ ngày chúng tôi ra tòa được không?
Rất mong luật sư tư vấn giúp.

Trả lời:

Theo những thông tin mà bạn đã cung cấp cho chúng tôi, chúng tôi hiểu rằng tòa án đã có quyết định bạn là người trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, thời gian gần đây do gặp một số khó khăn trong cuộc sống nên bạn muốn chồng bạn hỗ trợ cấp dưỡng nuôi con và bạn đang băn khoăn không biết có thể khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng hay không. Những thắc mắc của bạn chúng tôi có những ý kiến sau:

Căn cứ theo quy định tại điều 119 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Cụ thể:


1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.”….

Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Theo đó hiện tại bạn là người trực tiếp nuôi con người chồng cũ không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do vậy bạn có quyền gửi yêu cầu đến Tòa án nhân dân quận/huyện nơi người chồng cũ đang cư trú hoặc làm việc để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mức cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận. Trường hợp không thỏa thuận được thì sẽ do Tòa án quyết định.

Cụ thể Tòa án có thẩm quyền giải quyết căn cứ Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

“1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình,...

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình,...

c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản."

Theo quy định này, chị có thể gửi đơn khởi kiện tới tòa án cấp quận/ huyện nơi chồng chị cư trú.Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, nếu trong hồ sơ có căn cứ chứng minh việc chồng chị không thực hiện việc cấp dưỡng và vụ việc thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án thụ lí và giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự.

Thủ tục yêu cầu cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn:

-Hồ sơ yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn bao gồm

+ Đơn khởi kiện về việc cấp dưỡng;

+Bản sao có chứng thực giấy chứng minh nhân dân;

+ Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu;

+ Quyết định/ Bản án ly hôn;

+ Chứng cứ chứng minh thu nhập của người chồng

+ Bản sao có chứng thực giấy sinh của con.

>> Xem thêm:  Tư vấn về trình tự thủ tục và mẫu đơn ly hôn ?

2. Hồ sơ thủ tục xin kết hôn, ly hôn bao gồm những giấy tờ nào?

Thưa Luật sư, Tôi mới làm việc bên UBND xã cách đây 1 năm. Vào các năm trước tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra nhiều do phong tục, tập quán, sự hiểu biết pháp luật của nhân dân còn hạn chế. Nhưng năm 2016 này nhiều luật cũng được tuyên truyền đến nhân dân biết nhất là Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, hiện nay rên địa bàn xã chúng tôi có tới 7 cặp vợ cồng lấy nhau qua kiểm tra không đủ tuổi kết hôn (tảo hôn), chủ yếu là các em học sinh đang học cấp III yêu nhau rồi tổ chức cưới hỏi, số ít là em gai đang theo học, em trai thì không học nữa...
Với tình hình trên, tôi muốn hỏi tư vấn của Luật sự cách xử lý tình trạng trên thế nào? Nếu xử phạt vi phạm hành chính bao nhiêu? UBND xã có quyền xử phạt không?
Cảm ơn LS.

Trả lời:

​Hồ sơ xin kết hôn, ly hôn trong nước; kết hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài vấn đề chia tài sản, giành quyền nuôi con. Các vấn đề pháp lý liên quan đến hôn nhân và gia đình.

Căn cứ quy định tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định như sau:

" Điều 55. Hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.

2. Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác

Điều 67. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; đến 4.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội; đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy;

c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các Điểm a, b, c và đ Khoản 1 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính "

Trường hợp này việc kết hôn là hành vi vi phạm pháp luật, do đó, Chủ tịch UBND xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tảo hôn này và không công nhận quan hệ vợ chồng giữa các bên yêu cầu các bên chấm dứt tình trạng sống chung đồng thời kết hợp với việc tuyên truyền, giáo dục để tránh tình trạng này.

>> Xem thêm:  Xin tư vấn về thủ tục ly hôn ở tỉnh Hà Nam ? Quyền chia tài sản tặng cho khi ly hôn ?

3. Quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn?

Thưa luật sư tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Em tôi lấy chồng và sinh đôi hai cháu trai, hiện giờ hai cháu được 6 tháng tuổi, và đang sống chung với nhà chồng. Chồng em tôi lười biếng có khuyên kiểu nào cũng không chịu đi làm, còn em tôi vì phải chăm 2 cháu nên cũng không thể đi làm được, cả mẹ chồng cũng không có việc làm, cả nhà sống rất khó khăn.
Em tui bất mãn chồng và rất muốn li dị để được về nhà mẹ đẻ nhờ chăm sóc phụ để tìm việc làm, nhưng em tôi sợ không được quyền nuôi con?
Kính mong luật sư tư vấn giúp tôi, tôi chân thành cảm ơn ạ.

Hồ sơ thủ tục xin kết hôn, ly hôn bao gồm những giấy tờ nào ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, em gái bạn là người mẹ sẽ được trực tiếp nuôi con đối với con dưới 36 tháng tuổi sau khi ly hôn trừ 2 trường hơp là: giữa em bạn và người chồng có thỏa thuận khác về quyền nuôi con hoặc chồng em bạn có đủ căn cứ chứng minh em bạn không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

>> Xem thêm:  Muốn thay đổi quyền trực tiếp nuôi con sau ly hôn thực hiện như thế nào ?

4. Quyền được nuôi con và phân chia tài sản sau khi ly hôn?

Thưa luật sư, em có câu hỏi mong luật sư giải đáp giúp em, em xin cảm ơn rất nhiều! Em kết hôn năm 2005, hiện tại đã có 2 cháu trai, 1 cháu sinh năm 2006, tính đến nay đã hơn 9 tuổi và một cháu sinh 2009 tính đến nay đã được 7 tuổi. Hiện tại vợ chồng em không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa.

Vậy xin hỏi khi ly hôn em có được quyền nuôi cả hai cháu không? Về kinh tế, hai vợ chồng em ở nhà kinh doanh nhà nghỉ, kinh tế chung chứ không phân định thu nhập riêng, nhưng hiện tại mọi đất đai hai vợ chồng mua anh ta đều để người đứng tên là mẹ anh ta. Trên mảnh đất vợ chồng em đang sinh sống và kinh doanh nhà nghỉ cũng đứng tên mẹ anh ta nhưng nhà nghỉ đó là do vợ chồng em xây dựng (trị giá khoảng 20tỉ). Sau khi ly hôn em dự định sẽ buôn bán kinh doanh để nuôi con em nhưng để chứng minh thu nhập như ở công ty thì em không có vì em kinh doanh tự do nhưng em chắc chắn em có thể buôn bán để đảm bảo cuộc sống của con. Bản thân chồng em là một người ham chơi nhậu nhẹt, ngoại tình, bạo hành vợ, không quan tâm tới việc dạy dỗ, chăm sóc con cái, và đặc biệt anh ta về chữ tiếng việt anh ta đôi lúc viết còn thiếu nét( có nghĩa là không thành thạo).

Vậy em xin hỏi nếu em ly hôn em có được chia tài sản không? Trong trường hợp em không tranh chấp tài sản (tức là em chấp nhận ra đi tay trắng) em có thể tranh chấp quyền nuôi con được không?

Kính mong luật sư sẽ giải đáp giúp em, em cảm ơn!

Quyền được nuôi con và phân chia tài sản sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn về quyền nuôi con, phân chia tài sản khi ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về quyền nuôi con sau khi ly hôn:

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cụ thể như sau:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Từ những thông tin bạn cung cấp và những quy định trên của pháp luật có thể thấy:

- Con bạn đã hơn 3 tuổi, vì vậy sẽ không còn được mặc định giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

- Khi xem xét ai sẽ là người có quyền nuôi con, Tòa án sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau với mục đích tìm được người có thể đáp ứng tối đa yêu cầu cho sự phát triển của đứa trẻ. Nhìn chung Tòa án sẽ dựa trên 3 yêu tố sau:

+ Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;

+ Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.

+ Nguyện vọng của con: cả hai con của bạn đều trên 7 tuổi nên Tòa án sẽ xem xét đến nguyện vọng của các con bạn muốn ở với bố hay với mẹ.

Như vậy, nếu bạn thực sự yêu thương con mình và có đủ khả năng chứng minh trước tòa rằng mình có thể đem lại cho con mình cuộc sống tốt đẹp hơn thì việc bạn giành được quyền nuôi con là hoàn toàn có thể.

Bên cạnh đó Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Theo đó, nếu như bạn hoặc chồng bạn không trực tiếp nuôi con thì cũng phải thực hiện những quyền và nghĩa vụ của mình, có quyền được cấp dưỡng và thăm nom con. Không ai có thể cản trở quyền này theo quy định để đảm bảo cho đứa trẻ có sự phát triển tốt nhất.

Thứ hai, phân chia tài sản sau khi hôn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng là:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”

Theo đó, thì bạn và chồng bạn đã cùng nhau xây dựng và tạo lập được nhà nghỉ có giá trị 20 tỷ đồng, cho dù đứng tên mẹ chồng bạn. Đây là tài sản chung hợp nhất của hai vợ chồng bạn, do cả hai bạn cùng nhau xây dựng nên. Theo nguyên tắc phân chia tài sản chung sau khi ly hôn tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản này sẽ được chia đôi. Điều 59 quy định cụ thể như sau:

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...."

>> Xem thêm:  Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

5. Thủ tục ly hôn khi chồng hăm dọa?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi cưới chồng được 3 năm và có 1 đứa con được 3 tuổi. Chồng tôi công việc không ổn định, anh thường xuyên gây gổ với mẹ con tôi.

Anh còn nói tôi là người ăn cắp 2 chiếc nhẫn của anh, anh luôn hạch sách đòi tiền tôi 1 cách vô cớ nếu tôi không đưa hoặc tỏ ra khó chịu thì anh đòi bắt đứa con hoặc đánh tôi và chửi bới cha mẹ tôi. Tháng 8/2013, anh bắt đứa con tôi lúc đó mới 15 tháng tuổi mang đi và gọi điện thoại nói là gửi cho 1 người bạn ở doanh trại quân đội tại Vĩnh Long, còn phần anh thì đi nay đây mai đó trong khoảng thời gian đó anh vẫn lên gặp tôi với mục đích yêu cầu ba mẹ tôi gửi cho anh 500 triệu đi làm ăn. Ba mẹ tôi không đồng ý, anh quay qua yêu cầu tôi gửi 2-3 triệu thì anh mới ẵm con về và trả hết tiền nợ cho gia đình anh. Ba mẹ tôi chấp nhận đứng ra giải quyết và gửi trả cho gia đình anh quy từ quà cưới sang tiền mặc là tổng 15 triệu và cộng thêm 2 triệu để anh ẵm con tôi trở về. Từ khi trở anh thường xuyên hăm dọa và cứ mỗi lần anh đi làm mà có hơi men thì tôi trở thành công cụ tình dục của anh.

Giờ tôi muốn ly hôn nhưng không làm được vì tôi đã làm đơn 1 lần nhưng chưa gửi chính quyền anh đã hăm dọa. Anh đem hết giấy kết hôn và giấy khai sinh của con bé mang đi giấu. Tôi đã đến công anh và phường xã kiện cáo nhưng chẳng ai giải quyết vì đơn giải chưa ly hôn. Vật bây giờ tôi phải làm thế nào để giải quyết ly hôn, và bảo vệ cuộc sống của hai mẹ con tôi?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Thuy An

Thủ tục ly hôn khi chồng hăm dọa?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn....."

Trong trường hợp này, bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Thủ tục đơn phương ly hôn:

Hồ sơ ly hôn gồm các giấy tờ sau:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của chồng bạn.

Tuy nhiên trong trường hợp của bạn thì mọi giấy tờ kết hôn, giấy khai sinh của con đều do chồng của bạn nắm giữ như vậy bạn có thể làm như sau:

+ Về giấy đăng ký kết hôn: Bạn liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

+ Về giấy khai sinh của con: Bạn liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi bạn đăng ký khai sinh cho con trước đây để xin cấp bản sao.

Khi liên hệ với các cơ quan chức năng để làm các giấy tờ nói trên, bạn có thể nói rõ về chuyện chồng bạn cầm hết giấy tờ và bạn muốn ly hôn nhưng chồng bạn không đồng ý và còn hăm dọa cho các cơ quan chức năng biết để các cơ quan này giải quyết. Khi nộp đơn cho Tòa án, nếu thiếu giấy tờ nào đó theo yêu cầu của Tòa án mà bạn không thể bổ sung được thì bạn cứ xin tòa nhận đơn, trong quá trình thụ lý và giải quyết tòa án sẽ yêu cầu chồng bạn bổ sung sau.

Sau khi việc ly hôn đã được Tòa án giải quyết xong, chồng bạn vẫn còn đến hăm dọa, mắng chửi, đánh bạn thì bạn có quyền kiện anh ta đến cơ quan có thẩm quyền về tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể theo quy định tại điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chưa làm thủ tục chuyển khẩu về nhà chồng muốn ly hôn thì có ảnh hưởng gì không ?