1. Không có tiền có dành được quyền nuôi con khi ly hôn không?

Chào luật sư! Em có một vấn đề cần tư vấn: Vợ chồng em có hai đứa con, đứa con đầu của em năm nay 6 tuổi, đứa thứ 2 gần 3 tuổi, mà chúng em đang có nguy cơ phải chia tay.

Chồng em thì đi làm công ty lương tháng ổn định, nhưng lại không có thời gian để chăm con, còn em thì ở nhà chăm nuôi và chăm sóc con em nên em hiện tại không có tiền. Cho em hỏi nếu ra tòa thì em có được quyền nuôi 2 cháu không? Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.D

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Luật Minh Khuê. Với yêu cầu này, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định trên, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận người sẽ trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, học hành của con cũng như xem xét nguyện vọng của con muốn được sống với ai để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. Về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ nuôi dưỡng, con từ đủ 7 tuổi sẽ phải xem xét nguyện vọng của con.

Đối với trường hợp của bạn, đứa con đầu của bạn đã được 6 tuổi. Do đó vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi dưỡng con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định người trực tiếp nuôi con dựa trên quyền lợi về mọi mặt của con. Nếu bạn muốn dành quyền nuôi con thì bạn phải chứng minh được với Tòa án rằng bạn có điều kiện về kinh tế tốt hơn chồng (chẳng hạn như bạn có việc làm ổn định, thu nhập của bạn đủ để chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho con, đảm bảo cho con được ăn, mặc, ở, học hành, khám, chữa bệnh đầy đủ), hơn nữa bạn cũng có trình độ học vấn, môi trường giáo dục tốt, tình cảm yêu thương mà bạn dành để chăm sóc cho con từ trước tới nay rất sâu sắc. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải nêu ra những bất lợi nếu cho con ở với cha, chẳng hạn như chồng bạn thường xuyên đi làm, không có thời gian dể chăm sóc con, từ trước đến nay con bạn đều do bạn chăm sóc, nuôi nấng.

Còn đứa con thứ 2 của bạn được gần 3 tuổi (tức dước 36 tháng tuổi). Do đó về nguyên tắc bạn sẽ được ưu tiên quyền nuôi con.Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp pháp luật đều giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ nuôi dưỡng. Hai vợ chồng vẫn có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi dưỡng con dưới 36 tháng tuổi. Hoặc trong trường hợp người mẹ không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con thì Tòa án sẽ xem xét lại quyền nuôi con của người mẹ. Nếu muốn dành được quyền nuôi con bạn chỉ cần đưa ra bằng chứng trước Tòa khả năng về việc mình có thể nuôi dưỡng chăm sóc con: như tình hình về sưc khỏe, điều kiện về chỗ ở, việc làm, thu nhập hàng tháng, điều kiện chăm sóc giáo dục.

Tuy nhiên, dựa trên dữ kiện bạn đưa ra, chồng bạn là người có công việc, thu nhập ổn định trong khi bạn hiện nay không có thu nhập nên đây là điểm bất lợi của bạn khi giành quyền nuôi con với chồng, như vậy việc dành được quyền nuôi con của bạn là rất thấp, việc chồng bạn thường xuyên đi làm không có điều kiện về thơờif gian để chăm con trong trường hợp này có thể khắc phục được, tức là chồng bạn có khả năng sẽ dành được quyền nuôi cả 2 đứa con khi vợ chồng bạn ly hôn. Do đó, nếu bạn muốn giành quyền nuôi con thì bạn phải chứng minh được rằng con ở với mẹ sẽ có điều kiện tốt hơn ở với bố và bạn có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc con, bảo đảm cho con được các điều kiện về vật chất cũng như tinh thần. Muốn vậy, trước hết, bạn phải nhanh chóng tìm được việc làm, có thu nhập ổn định và thu nhập đó phải đảm bảo được cuộc sống cho cả ba mẹ con, đồng thời bạn có thể đưa ra bằng chứng việc chồng bạn thờ ơ, không có thời gian chăm sóc con, việc chăm con từ trước đến nay đều do một mình bạn lo. Đây sẽ là căn cứ quan trọng để Tòa án cân nhắc giao quyền nuôi cả 2 đứa con cho bạn.

>> Xem ngay: Tư vấn việc giành lại quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

2. Phân chia quyền nuôi con khi ly hôn?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Tôi là cán bộ công chức nhà nước, có con gái nhỏ được 30 tháng tuổi. Hiện nay vợ chồng tôi đã ly thân gần 3 năm, 2 mẹ con tôi về ở với bà ngoại; vợ chồng tôi có cưới hỏi đàng hoàng nhưng không đăng ký kết hôn. Chồng tôi đã nói và dọa nhiều lần là đợi đến khi con gái tôi được 3 tuổi sẽ nộp đơn ra tòa để dành quyền nuôi con.

Chồng tôi công ăn việc làm không ổn định và bị nghiện ma túy đã nhiều năm nên không chu cấp việc nuôi dưỡng mà thay vào đó là bà nội và chị chồng chu cấp, việc chu cấp nuôi dưỡng được khoảng 2 năm và đều đặn hàng tháng bằng chuyển khoản. Vậy xin hỏi nếu ra tòa, việc tiếp tục nuôi con gái nhỏ của tôi có bị ảnh hưởng hay cản trở, gặp khó khăn gì không? Nhà nội cũng như bố cháu vẫn thăm hỏi cháu thường xuyên và tôi cũng rất tạo điều kiện.
Xin cảm ơn!

Người gửi: L.P

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn."

Như vậy, trong trường hợp của bạn mặc dù có tổ chức cưới hỏi đàng hoàng nhưng không đăng ký kết hôn thì sẽ không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bạn muốn hỏi về quyền nuôi con sau khi ly thân thì điều này pháp luật không có quy định mà hoàn toàn do hai vợ chồng bạn thỏa thuận. Còn trong trường hợp chồng bạn nộp đơn ra tòa xin ly hôn và giành quyền nuôi con thì pháp luật sẽ giải quyết như sau:

Theo Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

" Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn

1. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này."

Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con."

Theo đó nếu vợ chồng bạn ly hôn thì việc nuôi con sẽ được giải quyết theo quy định về quyền và nghĩa vụ đối với con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 58 như sau:

"Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này."

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó con bạn mới 30 tháng tuổi thì sẽ do bạn trực tiếp nuôi dưỡng nếu vợ chồng bạn không có thỏa thuận khác.

>> Xem ngay: Không thỏa thuận được quyền nuôi con sau ly hôn xử lý thế nào?

3. Tư vấn thời gian ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Năm nay tôi 30 tuổi.Tôi đã kết hôn và có một bé trai 4 tuổi. Sau 5 năm chung sống, tôi và chồng tôi nảy sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống. Tôi đã 2 lần đề nghị với anh chuyện ly hôn, là lần này là lần thứ 3, tôi đưa đơn ly hôn. Chúng tôi chưa có nhà cửa là tài sản chung. Nhưng trong quá trình nhà chồng tôi xây nhà, tôi đã bán hết của hồi môn, vàng cưới để góp tiền xây nhà.

Mẹ tôi cũng cho tôi mượn 350 triệu để chi trả tiền xây nhà, tôi đưa hết cho chồng tôi, nhưng không có giấy tờ gì cả. Đồng thời, chồng tôi và tôi cùng đứng tên đi vay nợ 350 triệu đồng, với sự bảo lãnh của ba mẹ chồng (ba mẹ chồng đứng tên tài sản chúng tôi đem đi vay) . Vậy cho tôi hỏi một số câu hỏi:

1. Nếu ly hôn, tôi có đòi lại được số tiền là của hồi môn và tiền mẹ tôi cho mượn không? Bởi vì tôi không hề được đứng tên trong tài sản của nhà chồng.

2. Tôi phải có trách nhiệm như thế nào với khoản nợ đi vay ngân hàng?

3. Tôi có quyền được nuôi con không? Khi cả chồng tôi và tôi đều không có nhà riêng, như thu nhập của chồng tôi nhiều hơn tôi.

4. Thời gian giải quyết ly hôn sẽ kéo dài bao lâu?

5. Nếu tôi được giao quyền nuôi con nhưng sau đó phải đi nước ngoài một thời gian để công tác thì việc tôi để con tôi ở nhà cho ông bà ngoại chăm có bị vi phạm quy định nào không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.T

Tư vấn thời gian ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! câu hỏi của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, số tiền hồi môn và tiền mẹ bạn cho vay mượn sẽ được chồng bạn thanh toán cho bạn khi ly hôn kể cả bạn không đứng tên trong tài sản của nhà chồng. Theo quy định tại khoản 4, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”.Theo đó bạn sẽ được thanh toán phần giá trị của mình đóng góp vào số tài sản chung của gia đình nhà chồng.

Thứ hai, việc bạn đi vay vốn ngân hàng là do 2 vợ chồng cùng đứng tên nên chồng bạn cũng phải liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cùng với bạn theo quy định tại khoản 1, Điều 37 LHN&GĐ hiện hành:

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;”

Thứ ba, về quyền nuôi con: theo tinh thần của LHN&GĐ thì người nuôi con sau khi ly hôn sẽ do 2 vợ chồng bạn thỏa thuận có tính đến quyền lợi cho con, nếu như không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giải quyết trao quyền nuôi con cho 1 bên.

“Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”

Trong trường hợp cả bạn và chồng bạn đều không có nhà riêng, thu nhập của chồng bạn cao hơn bạn thì khi nộp đơn ra Tòa án chồng bạn sẽ chiếm ưu thế hơn về mặt kinh tế. Tuy nhiên Tòa án quyết định trao quyền nuôi con cho 1 bên không chỉ dựa vào yếu tố kinh tế mà còn cả yếu tố tinh thần nữa. Do đó bạn chỉ còn cách chứng minh rằng mình là 1 người mẹ có khả năng chăm sóc và đảm bảo cho con mình cuộc sống thì sẽ có cơ hội giành được quyền nuôi con.

Thứ tư, thời gian giải quyết ly hôn : Thời hạn tòa chuẩn bị xét xử ly hôn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý hồ sơ (kể cả thời gian hòa giải). Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan, thì được gia hạn, nhưng không quá hai tháng. Khi có quyết định xét xử, trong thời hạn một tháng, tòa phải tiến hành xét xử, nếu có lý do chính đáng thời hạn này có thể kéo dài hai tháng (Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Thứ năm, nếu ban được giao quyền nuôi con nhưng sau đó phải đi nước ngoài một thời gian để công tác thì việc bạn để con ở nhà cho ông bà ngoại chăm phải đảm bảo cuộc sống đầy đủ cho con thì mới có thể tiếp tục giữ được quyền nuôi con, nếu bạn đi công tác lâu và để con ở nhà với ông bà ngoại sẽ không đảm bảo sự quan tâm của người mẹ và rất có thể quyền nuôi con sẽ được thay đổi theo Điều 84 LHN&GĐ:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162

>> Xem ngay: Vợ không có việc làm có được quyền nuôi con sau ly hôn?

4. Tư vấn về giành quyền nuôi con khi ly hôn ?

Tôi là Phạm Thị Bình.Năm nay 29 tuổi. Tôi muốn tìm một luật sư riêng để giúp tôi giải quyết một số vấn đề về quyền nuôi con sau ly hôn. Vì hiện tại tôi không thể giải quyết theo hoà giải được nữa vì hai bên không thể nói chuyện được với nhau. Vậy tôi phải cần những thủ tục gì để ly hôn và giành quyền nuôi con.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: P.T.B

Thuê luật sư riêng tư vấn nuôi con sau ly hôn như thế nào

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ chồng có quyền ly hôn khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật. Theo như nội dung thư mà bạn trình bày thì bạn và chồng bạn đang có những mâu thuẫn nhất định. Trong trường hợp này nếu bạn và chồng bạn không thể giải quyết những mâu thuẫn này dẫn đến việc mâu thuẫn hôn nhân trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì bạn và chồng bạn có thể tiến hành ly hôn theo những phương thức sau đây:

Thứ nhất, thuận tình ly hôn khi cả hai vợ chồng bạn đều đồng ý ly hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Hồ sơ, thủ tục ly hôn đồng thuận được quy định như sau:

- Hồ sơ ly hôn, gồm:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (Theo mẫu của từng Tòa)

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi thường trú của một trong hai bên.

- Thời gian giải quyết:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Thứ hai, nếu chồng bạn không đồng ý ly hôn nhưng bạn vẫn mong muốn ly hôn thì bạn có thể ly hôn đơn phương theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

Để tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương, bạn cần chuẩn bị hồ sơ gồm các giấy tờ sau đây và nộp cho tòa án có thẩm quyền:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn về hộ khẩu và chữ ký của bạn.

2. Bản sao Giấy khai sinh của cháu bé;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của bạn và của chồng bạn

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của bạn là tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú.

Sau khi tiến hành thụ lý trường hợp của bạn, nếu vợ chồng bạn không thể thỏa thuận ai là người có quyền nuôi con sau ly hôn thì có thể yêu cầu thẩm phán giải quyết. Thẩm phán sẽ quyết định ai trực tiếp nuôi con sau ly hôn dựa trên quy định tại điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, trường hợp này bạn muốn tranh chấp quyền nuôi con với chồng bạn mà con của bạn từ đủ 3 tuổi trở lên thì bạn phải chứng minh được điều kiện của bạn có khả năng đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và điều kiện hơn chồng bạn, bao gồm: Điều kiện kinh tế, sức khỏe, thời gian, phẩm chất đạo đức, tâm lý tình cảm,....

>> Xem ngay: Tư vấn giành quyền nuôi con khi hanh vợ chồng tiến hành thủ tục ly hôn ?

5. Không thu nhập có được quyền nuôi con khi ly hôn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi năm nay 20 tuổi chồng tôi thì 19 tuổi nên vẫn chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn. Vợ chồng tôi đang có một bé trai được 3 tháng tuổi.

Chồng tôi thì là con trai duy nhất nên đứa bé là cháu đích tôn. Chồng tôi là một người chồng biết thương vợ nhưng lại nghe lời mẹ. Nên quãng thời gian sống chung với mẹ chồng tôi có nhiều cái bất hòa với mẹ nhưng chồng không hiểu cho tôi nên 2 vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Bây giờ tôi rất chán và muốn bỏ chồng nhưng tôi sợ không được quyền nuôi tôi. Vì giờ tôi không có thu nhập gì cả. Mà giờ con trai tôi được làm giấy khai sinh trước khi chúng tôi đăng ký kết hôn và được nhập khẩu trước tôi nữa. Giờ tôi muốn hỏi luật sư nếu tôi bỏ chồng thì liệu tôi có được nuôi tôi không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: D.L

Luật sư tư vấn hôn nhân về thủ tục ly hôn đơn phương, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp của bạn, hai vợ chồng chưa đăng ký kết hôn nên sẽ giải quyết theo Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Theo đó, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

"Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con".

Căn cứ Điều 81 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, con bạn mới 3 tháng tuổi, theo quy định trên thì con dưới 36 tháng tuổi sẽ do mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, bạn lại không có thu nhập, đây sẽ là căn cứ để Tòa cân nhắc xem bạn có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con. Ngoài ra còn phải căn cứ vào các điều kiện khác nữa mới quyết định được ai mới có quyền nuôi con.

>> Xem ngay: Muốn được quyền nuôi con khi ly hôn thì phải làm thế nào?

6. Tư vấn ly hôn khi chồng không đồng ý và giành quyền nuôi con ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi là bạn gái của anh A, chúng tôi rất yêu nhau và có ý định tiến tới hôn nhân. Nhưng anh này trước đó từng có 1 đứa con với bạn gái cũ (không kết hôn), nay bé được 1 tuổi rưỡi. Xét về tình cảm, anh A đã hết tình cảm với chị này và muốn đến với tôi. Nhưng lại quá thương con, vì sợ sau này con bé sẽ không có cha. HIện tại thì bé vẫn đang ở với mẹ, vì còn nhỏ, nhưng sau này anh A muốn có quyền được nuôi con bé hoặc đảm bảo gia đình bên kia phải cho anh này quyền được biết thông tin về con thường xuyên và được chăm lo cho bé. Thực ra, con bé sinh ra lại mang họ của ông chồng chị này. Và được công nhận như con của ông chồng này. Anh A chỉ lén lút gặp và thăm con. Nên quyền làm cha không được công nhận. Chị kia từng yêu cầu chồng ly hôn, nhưng vì sợ chia tài sản là căn nhà 4 tỷ trước đó của gia đình ông này mua cho 2 vợ chồng, nên ông chồng không chịu kí đơn mà vẫn tiếp tục sống ngoại tình.

Tôi muốn hỏi, theo luật thì nếu đệ đơn ly hôn trường hợp chị này, thì tòa có giải quyết chia tài sản hay không? Và anh A nên làm gì để đảm bảo được quyền chăm và lo cho con thường xuyên?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

Tư vấn ly hôn khi chồng không đồng ý và giành quyền nuôi con a?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Về vấn đề chia tài sản sau ly hôn của chị người yêu cũ.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chị người yêu cũ của chồng sắp cưới của bạn muốn ly hôn với chồng . Vấn đề tài sản sẽ được giải quyết như sau:

Vì ngôi nhà 4 tỷ được gia đình chồng chị kia mua cho 2 vợ chồng nên theo điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì đó được xác định là tài sản chung vợ chồng:

" 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.".

Vì là tài sản chung nên sau khi ly hôn sẽ được chia theo nguyên tắc tại điều 59 Luật HNGĐ như sau :

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.".

Như vậy, khi đưa đơn ra Tòa, chị B theo nguyên tắc vẫn được nửa số tài sản đó, có tính đến công sức đóng góp, xây dựng của 2 vợ chồng... và các yếu tố khác quy định tại khoản 2, điều 59 Luật này. Trường hợp không chia bằng hiện vật được thì anh chồng kia phải thanh toán giá trị ngôi nhà cho chị này.

Về vấn đề con của chồng sắp cưới của bạn và chị người yêu cũ.

Do anh A và chị B không có đăng ký kết hôn nên pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Theo điều 15 Luật hôn nhân gia đình thì :

"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.".

Theo quy định trên, nếu con trên 3 tuổi thì anh A và chị kia thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao cho một người nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Nếu con dưới 3 tuổi sẽ do mẹ đứa trẻ trực tiếp nuôi dưỡng.

Nghĩa vụ của anh A theo Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình:

" Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.".

Điều 110 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ và con như sau :

"Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.".

Như vậy, kể cả trong trường hợp chị đó là người trực tiếp nuôi dưỡng thì chị ấy cũng không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc con của anh A. Anh A vẫn có thể thăm nom con thường xuyên và tạo điều kiện cho con phát triển toàn diện.Tuy nhiên, anh A bắt buộc phải làm thủ tục nhận cha-con hoặc xác định lại quan hệ cha con với cháu bé kia thì mới được thực hiện các quyền này.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê