1. Không gian công cộng làng quê Việt Nam

Quan sát thực tế cho thấy, không gian công cộng vật thể ở Việt Nam còn rất thiếu. Quỹ đất ít ỏi, cộng vối quá trình đô thị hóa nhanh đã khiến cho các không gian công cộng trở nên thiếu thốn và không đáp ứng được nhu cầu xã hội.

Không gian công cộng làng quê Việt Nam thường gắn với cây đa, bến nước, ngôi chùa hay sân đình. Những nơi này không chỉ là nơi con người tập trung vào lúc rỗi rãi, nông nhàn hay vào các dịp lễ hội mà những nơi này còn là nơi gắn với các sinh hoạt mang tính tôn giáo, văn hoá nghệ thuật cũng giống như các quảng trường hay nhà thờ ở châu Âu. Không gian công cộng ở thành phố Việt Nam gắn với các công viên, quảng trường, phố đi bộ và các trung tâm mua sắm Có thể nhận thấy không gian biểu tượng gắn với không gian công cộng vật thể ở Việt Nam mới chỉ gắn với các nhu cầu văn hóa, nghệ thuật của con người. Dường như không gian công cộng ỗ Việt Nam chưa gắn kết và chưa thể hiện được nhu cầu chính trị của người dân. Chưa bao giờ người ta nhìn thấy ở Việt Nam những không gian công cộng sôi động gắn với các cuộc biểu tình, tuần hành như ở châu Âu, cũng không có không gian công cộng mang nặng tính tranh luận như trước các cuộc bầu cử ở Mỹ. Không gian công cộng ở Việt Nam nếu có gắn với các thảo luận chính trị thì có lẽ chỉ tìm thấy ở trên các forum trên Internet.

2. Không gian công cộng phi vật thể ở Việt Nam

Không gian công cộng phi vật thể ở Việt Nam có thể nói là khá phát triển cùng với sự phát triển của Internet. Có thể dễ dàng thấy điều này qua số lượng thành viên của các forum trên nhiều trang web. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng sự nhộn nhịp của các forum với rất nhiều các ý kiến đa chiều và thẳng thắn cũng bởi vì nó gắn với tính ẩn danh của các thành viên trên các forum đó. Trên các diễn đàn này, mỗi người chỉ hiện lên vối các avatar đại diện, và dưới tấm mặt nạ ảo đó người ta có thể nói bất cứ thứ gì mình muốn mà không sỢ bị ai nhòm ngó, đánh giá hay gây khó khăn cho cuộc sống của mình. Trên các diễn đàn đó, có nhiều vấn đề được xem là nhạy cảm mà thông thường nếu ở các không gian công cộng vật thể người ta không dám nói thì ở đấy người ta bàn tán công khai và bình luận sôi nổi. Tất nhiên, đôi lúc các bức tường lửa (firewall) cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của chúng khi ngăn chặn các diễn đàn có hơi hướng nhạy cảm chính trị, nhưng nhìn chung không gian công cộng internet cũng là một nơi thoáng đãng cho người ta thể hiện các suy nghĩ và bộc lộ chính kiến, tự do ngôn luận.

Tuy nhiên, nếu cứ phải ẩn danh để nói lên chính kiến của mình thì liệu không gian công cộng có còn mang đúng bản chất của nó không? Dường như ở đấy, không gian công cộng internet không hoàn toàn đúng như không gian công cộng truyền thống và vì thế mà tính phản biện và sự đối thoại công khai của không gian công cộng này đã không còn có giá trị như không gian công cộng truyền thống. Người ta có thể quan niệm rằng sự ẩn danh đôi khi làm cho các cuộc tranh luận trở nên không đáng tin cậy và vì thế, những phản hồi từ không gian công cộng internet cũng không thu hút được nhiều sự quan tâm của Nhà nước bằng các phản hồi từ không gian công cộng vật thể thông qua các cuộc biểu tình, hội họp của các tổ chức xã hội.

3. Không gian công cộng là thước đo của độ dân chủ

Ông Nguyễn Bỉnh Quân đã gọi không gian công cộng là vitamin của đời sống đô thị trong một bài viết của mình trên tạp chí Tia sáng. Nếu nói ta đang hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì các không gian công cộng chính là những tấm gương soi phản ánh ba phẩm chất ấy. Theo ông Nguyễn Bỉnh Quân thì không gian công cộng thể hiện sự công bằng thông qua việc tham gia của mọi người vào không gian này. Bất kỳ ai từ ông Bộ trưởng, ngài tỷ phú cho đến anh bán vé số hay những người vô gia cư đều có điều kiện tham gia vào hoạt động của không gian công cộng như nhau. Không gian công cộng cũng là thước đo của độ dân chủ khi mà mọi người đều cảm thấy không gian công cộng đó gần gũi và dễ tiếp cận, giống như việc mở cửa cho người dân tự do tham quan ở điện Kremlin (Nga) hay ỏ nhà Quốc hội Đức, Đan Mạch. Và không gian công cộng cũng là thước đo của độ văn minh của một xã hội khi mà con người ngày nay gắn với sinh hoạt công cộng còn nhiều hơn ở nhà. Không thể nói một xã hội là văn minh khi mà người ta vẫn mặc đồ ngủ ỏ nơi công cộng, xả rác, khạc nhổ bừa bãi ở nơi công cộng hay bẻ cây, hái hoa ở nơi công cộng.

Có thể nói, ở Việt Nam khi chính quyền và người dân chưa ý thức được tầm quan trọng, thiết yếu của không gian công cộng, văn hoá công cộng, chưa chăm chút đầu tư cho không gian công cộng, chưa giáo dưỡng xây dựng lối sống nơi công cộng thì cái xã hội mà ta mong mỏi, công bằng - dân chủ - văn minh, chưa thể hiện hình...

Vậy, để có một không gian công cộng đúng nghĩa ở Việt Nam, một không gian công cộng gắn bó và thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự, gắn với sự đảm bảo thực hiện và thúc đẩy quyền con người, cần phải có những điều kiện gì? Hãy xem xét điều kiện không gian công cộng phải được gắn với quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng.

4. Quyền tự do ngôn luận

Quyền tự do ngôn luận của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, khi thực hiện quyền này đang nảy sinh suy nghĩ nhận thức ở một số người cho rằng: tự do ngôn luận là được tự do nói năng, phát ngôn, bình luận chia sẻ, phát tán thông tin mà không chịu bất cứ trách nhiệm hay ngăn cản nào, thậm chí đó là những phát ngôn xuyên tạc sự thật, thông tin sai lệch, bình luận thiên lệch, phiến diện tùy tiện... nếu ai hạn chế quyền nói năng, bình luận, phát tán thông tin của người khác là vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân, vậy bản chất của vấn đề ở đây là gì, thực chất nhận thức như vậy là phiến diện và không chính xác nếu không muốn nói là sai lầm, chúng ta biết rằng trên thực tế không bao giờ có quyền tự do tuyệt đối cả, mà nó còn bị giới hạn bởi các yếu tố như luật pháp, phong tục tập quán, đạo đức xã hội. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô chính phủ, tự do kiểu hoang dã, ai cũng nói năng, phát ngôn bừa bãi, xuyên tạc sự thật, bịa đặt, chia sẻ thông tin không kiểm chứng, bất chấp đúng sai sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây rối loạn xã hội, nhiễu loạn thông tin, có thể tạo ra khủng hoảng thông tin xã hội, dẫn đến bất ổn định an ninh trật tự xã hội.

Cần nhận thức rằng, tự do ngôn luận hoàn toàn khác về chất với ngôn luận tự do, thực tiễn chỉ ra rằng để đảm bảo quyền tự do ngôn luận một cách chính đáng cho công dân, cần thiết phải có những khuôn khổ pháp lý nhất định để vừa đảm bảo thực hiện quyền tự do ngôn luận, vừa để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc sự thật, tung tin giả, phao đồn tin nhảm, bịa đặt gây hoang mang dư luận, và hoang mang trong dân chúng, bởi tự do ngôn luận khác với ngôn luận tự do nên Liên Hợp Quốc cũng lưu ý trong Hiến chương của mình rằng: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu giới hạn do luật pháp đặt ra, nhằm đảm bảo những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn” (điều 29 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948). Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của nước Pháp tại điều 11 cũng biểu đạt: “Tự do trao đổi suy nghĩ, và ý kiến là một trong nững quyền quý giá nhất của con người. Vì thế bất cứ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do, tuy nhiên họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Hiến pháp nước ta khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo chí… của công dân, nhưng cũng quy định “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25 hiến pháp 2013).

Như vậy, ta thấy rằng quyền phải đi liền với trách nhiệm, con người muốn tự do phải hiểu rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình trước pháp luật, trước xã hội, mình được làm gì, và không được làm gì, quyền tự do ngôn luận cũng phải nằm trong khuôn khổ như vậy.

5. Không gian công cộng phải gắn với quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng

Không gian công cộng là nơi mà bất cứ ai cũng có thể tham gia và trao đổi ý kiến với nhau mà không chịu bất cứ áp lực nào từ bên ngoài (xin nhấn mạnh: không phải chịu bất cứ áp lực nào từ bên ngoài). Vì thế, nếu không có tự do ngôn luận và tự do tư tưởng thì không gian công cộng đương nhiên sẽ không hình thành, hoặc là có tự do ngôn luận và tự do tư tưởng một cách hình thức thì không gian công cộng dù có hình thành thì cũng méo mó và biến dạng. Sẽ chẳng còn ai gọi cái không gian đó là không gian công cộng khi mỗi người đều không dám nói thẳng suy nghĩ của mình và nơm nớp lo sợ điều đó sẽ làm phương hại đến lợi ích cá nhân của mình.

Ở Việt Nam, chúng ta đã có Luật Báo chí, Luật Xuất bản. Nhiều báo như Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Thanh niên, Tuổi trẻ hay báo mạng Vietnamnet đã góp phần thúc đẩy phát triển không gian công cộng thông qua các diễn đàn, các bài viết và tranh luận hết sức cởi mồ, thẳng thắn về các vấn đề nhạy cảm như chống tham nhũng, tiêu cực nhưng dường như, những điều đó vẫn chưa đủ để làm nên một không gian công cộng đúng nghĩa nếu như chúng ta còn thiếu Luật Tiếp cận thông tin. Sẽ không thể có tự do ngôn luận nếu tự do thông tin chưa được đảm bảo. Xét cho cùng việc ban hành và đảm bảo thực thi pháp luật về tiếp cận thông tin, báo chí và xuất bản chính là cơ sở để hình thành không gian công cộng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)