Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:
1. Trách nhiệm khi không thiện chí thực hiện nghĩa vụ hợp đồng vay?
1.1 Trách nhiệm dân sự
Việc người dân vay tiền từ cá nhân hay công ty, tổ chức tín dụng, tài chính nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết ban đầu giữ 2 bên là hành vi vi phạm pháp luật.
Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: "Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn".
Như vậy, pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ của người đi vay là khi đến hạn họ phải có nghĩa vụ trả nợ, do đó, nếu bên vay không trả, thì có thể phải đối diện với hình thức xử lý nghiêm minh của pháp luật.
- Trường hợp bên vay không trả nợ do không có khả năng chi trả và không có dấu hiệu bỏ trốn hay dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì trong trường hợp này người vay tiền đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể như sau:
"Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền"
Theo đó, đây sẽ là tranh chấp dân sự, để đòi lại được tiền, bên cho vay có thể làm đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền để đề nghị tòa án nhân dân tuyên buộc bên nợ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn (bên cho vay) có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
1.2 Trách nhiệm dưới góc nhìn luật thương mại
Hợp đồng được ký kết giữa khách hàng và công ty của bạn được hiểu là hợp đồng trong thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại năm 2005. Khi ký kết hợp đồng 2 bên sẽ thỏa thuận về các điều khoản cụ thể trong đó có điều khoản về chế tài thương mại trong trường hợp 2 bên không thực hiện đúng hợp đồng đã giao kết.
Điều 292. Các loại chế tài trong thương mại
1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2. Phạt vi phạm.
3. Buộc bồi thường thiệt hại.
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
6. Huỷ bỏ hợp đồng.
7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.
Trường hợp khách hàng không có thiện chí tất toán hợp đồng, công ty bạn có quyền áp dụng chế tài cụ thể mà 2 bên đã thỏa thuận từ trước trừ trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Nếu khách hàng không tự nguyện thực hiện công ty bạn có thể yêu cầu Tòa án hoặc trọng tài giải quyết (trong trường hợp 2 bên có thỏa thuận trọng tài).
1.3 Trách nhiệm theo luật hình sự
- Trường hợp nếu bên vay có thể trả nợ nhưng không trả mà cố tình dùng thủ đoạn gian đối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cụ thể, tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, các hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là
+ Vay mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Người thực hiện một trong các hành vi trên có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi:
+ Giá trị tài sản từ 04 triệu đến dưới 50 triệu đồng
+ Giá trị tài sản dưới 04 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các khung hình phạt tăng nặng khác là:
Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi: Phạm tội có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Tái phạm nguy hiểm...
Phạt tù từ 05 - 12 năm khi chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng.
Phạt tù từ 12 - 20 năm khi chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên. Bên cạnh đó, hình phạt bổ sung của tội này là phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có thể bị phạt tù đến 20 năm, phạt tiền đến 100 triệu đồng.
- Đã bị phạt tù có phải trả nợ không?
Dù đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố tình không trả nợ, người phạm tội vẫn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự.
Cụ thể, tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, bên vay có nghĩa vụ như sau:
+ Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
+ Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
+ Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác...
+ Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
+ Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trừ trường hợp chậm trả thì còn phải trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Như vậy, không chỉ phải trả số nợ đã vay theo thỏa thuận, nếu quá hạn trả nợ, bên đi vay còn có thể phải trả lãi trên nợ gốc.
2. Xử lý vi phạm nghĩa vụ thanh toán, thanh toán chậm so với hợp đồng
- Quy định về nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng:
Nghĩa vụ thanh toán là nghĩa vụ phải thực hiện đúng, đủ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật (nếu các bên không thỏa thuận). Nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng sẽ bao gồm:
+ Nghĩa vụ thanh toán bắt buộc theo thỏa thuận hợp đồng
Nghĩa vụ thanh toán bắt buộc cho các khoản tiền hàng, tiền dịch vụ, tiền phí để thực hiện hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận, trong đó có bao gồm cả tiền lãi của hợp đồng vay.
+ Nghĩa vụ thanh toán được yêu cầu do vi phạm nghĩa vụ thanh toán bắt buộc:
Đây là khoản tiền phát sinh do chậm thực hiện hợp đồng, ví dụ như; nghĩa vụ thanh toán tiền lãi suất chậm trả do chậm thanh toán tiền; Nghĩa vụ thanh toán tiền lưu kho do chậm nhận hàng; Nghĩa vụ thanh toán tiền lãi suất quá hạn do chậm trả tiền lãi vay,...
Các nghĩa vụ này thường phát sinh trên căn cứ đối đáp giữa hai bên để làm rõ khoản tiền phải thanh toán, nên cũng là các yêu cầu thường có trong việc khởi kiện vi phạm hợp đồng
- Xác định thời hạn thanh toán theo hợp đồng
Thời hạn thanh toán được xác định theo nguyên tắc sau:
+ Các bên khi có thỏa thuận thời hạn thanh toán thì áp dụng theo thỏa thuận. Thỏa thuận sau cùng là thỏa thuận được áp dụng khi có nhiều thỏa thuận về cùng một khoản tiền yêu cầu thanh toán.
+ Các bên không thỏa thuận thời hạn thanh toán thì áp dụng theo quy định pháp luật điều chỉnh loại hợp đồng giao kết
+ Các bên không thỏa thuận, pháp luật không quy định về thời hạn thanh toán thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán tiền trong một thời gian hợp lý.
Khi thời hạn thanh toán được xác lập mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì phải chịu lãi suất chậm trả tiền.
- Chế tài phạt chậm thanh toán tiền theo thỏa thuận hợp đồng
Chế tài phạt chậm thanh toán tiền theo thỏa thuận hợp đồng bao gồm 02 khoản:
+ Thứ nhất, là tiền phạt hợp đồng theo thỏa thuận về phạt hợp đồng. Đối với hợp đồng thương mại như hợp đồng mua bán hàng hóa thì mức phạt hợp đồng không quá 8% phần giá trị hợp đồng bị vi phạm.
+ Thứ hai, là tiền phạt chậm thanh toán tiền với mức lãi suất chậm trả áp dụng dưa theo thời gian chậm trả và số tiền chậm trả.
Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.