Kinh tế phúc lợt khoa, môn (welfare economics) là chuyên ngành chuẩn tắc của kinh tế học quan tâm đến vấn đề phải tổ chức hoạt động kinh tế như thế nào để tối đa hoá được sản lượng và công bằng xã hội. Kinh tế phúc lợi sử dụng các đánh giá giá trị để đưa ra những nhận định như cần phải sản xuất cái gì, nên tổ chức sản xuất như thế nào và cần phân phối thu nhập và của cải ra sao trong hiện tại và tương lai. Khó khăn nảy sinh ở đây là mỗi cá nhân trong cộng đồng có thể có những đánh giá riêng của mình, tuỳ vào thái độ, tôn giáo, triết lý và chính kiến của anh ta. Trong trường hợp này, các nhà kinh tế không thể tổng hợp các đánh giá giá trị cá nhân lại với nhau để tư vấn cho nhà hoạch định chính sách về những quyết định ảnh hưởng tcd quá trình phân bổ nguồn lực, vì điều này có liên quan đến những so sánh ích lợi giữa các cá nhân. Trong nhiều năm, các nhà kinh tế đã cố gắng thiết lập một tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế nhằm sử dụng làm kim chỉ nam trong quá trình đánh giá chiều hướng phát triển thực sự của các nguồn lực kinh tế. Trong nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế cổ điển coi ích lợi là đại lượng đo được để phản ánh mức thoả mãn của người tiêu dùng và các nhà kinh tế phúc lợi đầu tiên như Pigou quyết tâm đi theo hướng này. Vì vậy, họ đã nhận xét những thay đổi trong hoạt động kinh tế bằng cách khẳng định có sự gia tăng hay suy giảm của phúc lợi kinh tế. Nhưng khi các nhà kinh tế cự tuyệt tư tưởng cho rằng ích lợi là cái có thể đo được, thì họ cảm thấy buộc phải chấp nhận quan điểm cho rằng phúc lợi kinh tế cũng không đo được và báì kỳ nhận xét nào vé phúc lợi cũng chỉ là sự đánh giá giá trị, chịu sự tác động của sở thích cũng như thứ tự ưu tiên của người thực hiện đánh giá đó. Kết luận này dẫn tới sự tìm kiếm các tiêu chuẩn phúc lợi không cần tới những so sánh ích lợi giữa cá nhân bằng cách đưa ra các đánh giá giá trị rõ ràng là liệu phúc lợi kinh tế có tăng lên hay không.

Tiêu chuẩn đơn giản nhất được V.Pareto nêu ra. Theo ông thì mọi sự tái phân bổ nguồn lực mà làm thay đổi việc sản xuất hay phân phối hàng hoá đều được coi là nâng cao phúc lợi nếu nó làm cho một số người tin rằng họ có lợi hơn mà không làm cho ai đó bị thiệt. Tiêu chuẩn Pareto này giúp chúng ta tránh được vấn đề so sánh giữa các cá nhân thông qua việc chỉ chú ý đến những trường hợp trong đó không ai bị thiệt. Điều không may là tiêu chuẩn này không vận dụng được trong hầu hết các khuyến nghị chính sách có lợi cho một số người và có hại cho những người khác, nhưng không thổ bù đắp cho họ.

N.Kaldor và J.Hicks đã đưa ra tiêu chuẩn khác được gọi là nguyên tắc bù. Nguyên tắc này nói rằng mọi sự thay đổi hay tái tổ chức hoạt động kinh tế đều được coi là có lợi nếu sau khi có sự thay đổi, những người được lợi có thể bù toàn bộ thiệt thòi của người bị hại mà vần còn được hưởng phúc lợi cao hơn trước khi có sự thay đổi. Như vậy, tiêu chuẩn này chia ảnh hưởng của sự thay đổi thành hai loại: lợi/hại về hiệu quả và các hậu quả đối với phân phối thu nhập. Nếu người được lợi đánh giá mức lợi của mình cao hơn mức thiệt mà người bị hại nghĩ rằng mình phải chịu, thì cái lợi về hiệu quả sẽ biện hộ cho sụ thay đổi, mặc dù trên thực tế không có sự tái phân phối thu nhập thông qua việc bù tiền cho người bị hại. Khi người được lợi từ một sự thay đổi đă bù đắp hoàn toàn cho người bị hại mà vần còn thu được một mức lợi ròng, thì đây chính là sự cải thiện theo tiêu chuẩn Pareto.

Ngoài ra, khi thiết lập tiêu chuẩn phúc lợi, các nhà kinh tế (chẳng hạn P.Samuelson) đã tìm cách xây dựng một hàm phúc lợi xã hội cho phép chi ra hình thức tó chức kinh tế nào tốt hơn. Hàm phúc lợi xã hội có thể được coi là hàm phúc lợi của mỗi người tiêu dùng. Tuy nhiên, để thiết lập hàm phúc lợi xã hội, người ta phải tổng hợp sở thích của tất cả mọi người tiêu dùng thành một hệ thống sở thích của cộng đồng. Một số nhà kinh tế, chẳng hạn Kennet Arrow, đã nêu ra vấn đề là liệu có thể thiết lập một hệ thống sở thích nhất quán của cộng đồng hay không. Chẳng hạn, một cộng đồng có 3 người là 1,2 và 3 muốn chọn 3 phương án chính sách khác nhau là A, B và c. Người thứ nhất thích A hơn B và B hơn c, suy ra anh ta thích A hơn c. Người thứ hai thích B hơn c và c hơn A, vậy anh ta thích B hơn A. Người thứ ba thích c hơn A và A hơn B, bởi vậy anh ta thích c hơn B.

Nếu tìm cách tổng hợp các sở thích nhất quán của ba cá nhân này lại với nhau theo nguyên tắc đa số, chúng ta sẽ thấy rằng 2/3 thích A hơn B và 2/3 thích B hơn c, ... Vì vậy, theo lôgíc thì sở thích xã hội phải biểu thị ở chỗ A được ưa thích hơn B. Nhưng điều này lại mâu thuẫn với thực tế là 2/3 số người ưa thích c hơn A.