Thưa luật sư, Cho phép tôi hỏi: nếu tôi ký hợp đồng lao động với công ty nước ngoài (không có trụ sở ở VN), được đồng ý trả lương cứng 3000SGD mỗi tháng, kèm theo hoa hồng 25%, nhưng bắt buộc phải làm thêm giờ thỉnh thoảng theo yêu cầu.
Phần lương này không bao gồm thuế, bảo hiểm XH, bảo hiểm Y tế,.. tôi là người lao động phải tự kê khai và tự trả ở VN. Tôi không biết công việc hành chính kế toán, làm thế nào nên nhờ các bạn giúp.
Tôi yêu cầu công ty ghi trong hợp đồng:
+ Mức lương chính thức là 500SGD (8.7 triệu VND), và
+ Tiền làm thêm ngoài giờ: 2,500SGD (43 triệu VND) + tiền hoa hồng ( cũng tính vào làm thêm ngoài giờ).
Theo hợp đồng như vậy, thì tôi sẽ không phải nộp thuế TNCN, hay bất cứ thuế gì khác phải không ạ?
Ngoài ra, tôi có phải nộp BHXH bắt buộc không ạ? Nếu nộp thì là bao nhiêu? Làm thế nào để tôi giảm thiểu phần tiền BHXH bắt buộc phải nộp ạ? (Tôi là nữ, 29 tuổi, độc thân, không có con, nhưng có bố và mẹ đã nghỉ hưu.)
Vậy, Ký hợp đồng lao động với công ty nước ngoài có phải tham gia BHXH không?
Luật sư tư vấn:
Do dữ liệu bạn đưa ra chưa đầy đủ về việc bạn sẽ làm công việc gì tại Việt Nam, công ty nước ngoài đó sẽ trả lương cho bạn bằng hình thức nào và hai bên đã có những thỏa thuận như thế nào nên Luật minh Khuê chúng tôi tư vấn về nguyên tắc chung như sau:
Theo Điều 2 Bộ luật lao động 2019 quy định về đối tượng áp dụng:
"1. Người lao động, người học nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao động.
2. Người sử dụng lao động.
3. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động."
Bộ luật lao động được áp dụng đối với mọi người lao động, mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động theo hợp đồng lao động, thuộc các thành phần kinh tế, cá hình thức sở hữu.
Bộ luật lao động 2019 được áp dụng đối với người học nghề, người giúp việc gia đình và một số loại lao động khác được quy định tại luật này.
Công dân Việt nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tại các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế đóng trên lãnh thổ Việt Nam và người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức và cho cá nhân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc phạm vi áp dụng của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Như vậy, bạn làm việc ở công ty nước ngoài, không có chi nhánh, không có văn phòng ở Việt Nam hay nói cách khác thực tế này không tồn tại ở Việt Nam. Do đó theo quy định trên thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của bộ luật lao động Việt Nam.
Tuy nhiên, bạn vẫn có quyền ký kết các hợp đồng quy định với các điều kiện và điều khoản cụ thể với một công ty nước ngoài nhằm thực hiện một công việc tại Việt Nam nhưng không được vi phạm pháp luật Việt Nam, không vi phạm thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Các công việc mà bạn thực hiện tại Việt Nam sẽ tùy từng quan hệ pháp luật mà bị điều chỉnh bởi pháp luật Việt Nam còn quan hệ giữa bạn và công ty nước ngoài (không có chi nhánh đặt tại Việt Nam) nên công ty này không tồn tại ở Việt Nam nên không được điều chỉnh bới luật lao động Việt Nam.
Khi ký hợp đồng với công ty nước ngoài theo nguyên tắc tư pháp quốc tế, bạn và công ty nước ngoài đó có quyền thỏa thuận về hệ thống pháp luật mà các bên sẽ áp dụng để điều chỉnh (có thể là pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài nơi công ty nước ngoài đó có trụ sở chính).
Thứ hai, về mức thuế thu nhập cá nhân phải nộp và có phải bắt buộc đóng bảo hiểm xã hội:
Việc lập công ty hay thành lập chi nhánh hay đăng ký kinh doanh là không cần thiết. Hiện nay, do công nghệ phát triển, nhiều người làm việc thực hiện công việc qua Internet, nhận lương qua chuyển khoản mà không cần thiết đến nơi làm việc (nơi làm việc của họ có thể ở trong nước hoặc nước ngoài) mặc dù trên thực tế họ vẫn ký hợp đồng lao động với công ty, thuộc biên chế trả lương của công ty. Thực tế nơi làm việc là tại Việt Nam nhưng công việc thực hiện, kết quả của công việc là ở nước ngoài, công ty nước ngoài cũng không có hoạt động kinh doanh, không phát sinh doanh thu tại việt nam nên không cần thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện hay công ty tại Việt Nam là không cần thiết, tránh tốn kém lãng phí tiền của.
Theo quy định pháp luật tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
"1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đòng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
c) Cán bộ, công chức, viên chức;
d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có ảnh hưởng tiền lương;
i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
2. Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.
3. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
4. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều này.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.
Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này sau đây gọi chung là người lao động."
Do đó, trường hợp bạn không ký hợp đồng lao động với công ty nước ngoài thì bạn sẽ không bắt buộc nộp bảo hiểm xã hội.
Tuy nhiên, người lao động và người sử dụng lao động thường ký kết hợp đồng lao động. Theo quy định pháp luật thì người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, xác định thời hạn, làm việc theo hợp đồng từ 01 tháng đến dưới 12 tháng đều phải nộp bảo hiểm xã hội.
Do đó, về cơ bản khách hàng sẽ phải nộp bảo hiểm xã hội. Về nguyên tắc, cả người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền và nghĩa vụ nộp bảo hiểm xã hội.
Trong trường hợp này của bạn, do công ty của bạn ở nước ngoài, không có chi nhánh hay văn phòng đại diện của công ty ở Việt Nam (công ty của bạn không hoạt động tại Việt Nam), do đó bạn có nghĩa vụ tự nộp bảo hiểm xã hội theo đại diện của người lao động nộp. Khác với người sử dụng lao động nộp bảo hiểm xã hội (bao gồm ốm đau, thai sản, tai nạn nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất) thì người lao động chỉ cần phải nộp tiền hưu trí và tử tuất. Mức đóng theo khoản 1 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội quy định.
Tuy nhiên, trường hợp của bạn do không có công ty doanh nghiệp tại Việt Nam (công ty nước ngoài của bạn không hoạt động ở Việt Nam), việc quản lý của nhà nước cũng còn chưa chặt chẽ, rõ ràng, tính chất bắt buộc phải nộp bảo hiểm xã hội trong trường hợp của bạn cũng không thể hiện rõ. Các quy định pháp luật liên quan có tính chất áp dụng cho người lao động làm việc tại Việt Nam cho cá nhân, doanh nghiệp tại Việt Nam hơn là trường hợp của bạn.
Tương tự như bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp,... đối với trường hợp của bạn mất đi tính bắt buộc, việc kiểm soát của cơ quan nhà nước trong trường của bạn cũng khó khăn.
Công ty nước ngoài không trực tiếp chi trả bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội nên thông thường cạnh tiền lương người sử dụng lao động sẽ phải trả cho người lao động thì công ty nước ngoài sẽ trả thêm cho người lao động thêm một khoản tiền tương đương tiền đóng bảo hiểm.
Thứ ba, Về khoản đóng thuế thu nhập cá (TNCN)?
Căn cứ Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân 2007 (Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi bổ sung năm 2012) quy định về đối tượng nộp thuế như sau:
Đối tượng nộp thuế
"1. Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập phải chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
2. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
3. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này."
Như vậy, bạn phải có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) phát sinh vì đáp ứng các điều kiện chịu thuế sau:
- Cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam;
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công;
Do đó, cá nhân cư trú tại Việt Nam không phân biệt là thu nhập phát sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt nam, có tính chất là tiền lương, tiền công phải chịu thuế TNCN theo quy định của pháp luật.
Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công do các tổ chức, cá nhân trả từ nước ngoài khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế theo quý theo biểu thuế suất thu nhập cá nhân. Lưu ý, thuế TNCN là loại thuế được tính theo tháng, nhưng kê khai theo tháng hặc quý và quyết toán tuế TNCN theo năm.
Trường hợp của bạn thì bạn phải tự thực hiện quyết toán thuế đối với cơ quan thuế, nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế là Cục thuế nơi bạn nộp tờ khai thuế trong năm.
Bạn chỉ có thể ủy quyền cho tổ chức, doanh nghiệp, công ty nước ngoài trả lương cho bạn thực hiện quyết toán thuế. Văn phòng luật sư chỉ có thể hướng dẫn các thủ tục quyết toán thuế TNCN cho cá nhân mà không thể thực hiện quyết toán thuế thay bạn được.
Trên đây là toàn bộ những tư vấn sơ bộ của Luật Minh Khuê, nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật thuế trực tuyến hotline 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn trực tiếp và cụ thể hơn. Xin chân thành cảm ơn!