Xin chào công ty Luật Minh Khuê, trong quá trình tham gia điều tra vụ án hình sự, khi phát hiện sự vi phạm pháp luật tố tụng của điều tra viên, người bào chữa cần xử lý như thế nào? Kỹ năng nào cần có để có thể xử lý linh hoạt động vấn đề này? Rất mong nhận được tư vấn của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Tạ Thắng - Đà Nẵng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Người bào chữa là gì?

Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

Theo quy định pháp luật tố tụng hình sự, Người bào chữa có thể là:

- Luật sư;

- Người đại diện của người bị buộc tội;

- Bào chữa viên nhân dân;

- Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

3. Kỹ năng phát hiện vi phạm tố tụng của Điều tra viên

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, luật sư cần trang bị cho mình những kỹ năng để có thể phát hiện ra những vi phạm tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án.

Trong quá trình thực hiện công việc bào chữa của mình, việc luật sư phát hiện ra những sai phạm của điều tra viên (nếu có) trong quá trình giải quyết vụ án là yếu tố quan trọng để việc giải quyết vụ án được khách quan, tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Do đó, khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, luật sư cần trang bị cho mình những kỹ năng để có thể phát hiện ra những sai phạm của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án.

Việc phát hiện sai phạm, thiếu sót của điều tra viên có thể được luật sư thực hiện ngay khi luật sư gặp gỡ và trao đổi với người bị tạm giữ, bị can. Khi trao đổi với bị can, người bị tạm giữ, luật sư cần hỏi xem họ đã được điều tra viên giao quyết định khởi tố bị can chưa; đã được điều tra viên giải thích đây đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can hay chưa; có bị điều tra viên đặt các câu hỏi mớm cung hay không; có bị điều tra viên bức cung hoặc dùng nhục hình khi lấy lời khai, hỏi cung không; người bị tạm giữ, bị can có được ký vào mỗi trang của biên bản lấy lời khai, hỏi cung mình hay không; có ký vào sát dòng cuối cùng của biên bản hay không… Trong nhiều trường hợp, người bị tạm giữ, bị can chỉ ký vào trang cuối cùng của bản cung nhưng lại không sát vào dòng cuối của trang nên sau này có thể điều tra viên sẽ viết thêm những nội dung bất lợi cho họ vào trang đầu của bản cung hoặc phân trống được tạo ra khi người bị tạm giữ, bị can ký không sát vào dòng cuối cùng (lưu ý chỉ có thể chắc chắn đúng là điều tra viên có những sai phạm trên khi luật sự được nghiên cứu hồ sơ vụ án – nghĩa là sau khi kết thúc điều tra).

Đối với người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi, luật sư cần hỏi rõ xem họ có người giám hộ không; người giám hộ của họ có mặt khi hỏi cung và có được ký vào các biên bản hỏi cung đó không, bởi theo quy định của BLTTHS thì khi hỏi cung người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì phải có mặt người đại diện của họ và người đại diện này được quyền ký vào các bản cung.

Khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, luật sư cần chú ý đến ngày, tháng, năm của các biên bản xem chúng có trùng lặp hoặc mẫu thuẫn nhau về mặt thời gian hay không. Trong nhiều vụ án, trong cùng một thời gian, địa điểm mà điều tra viên lại có thể hỏi cung nhiều bị can khác nhau, thậm chí tại nhiều địa điểm khác nhau thì điều đó chứng tỏ những bản cung đó là do điều tra viên tự viết bản cung và người bị tạm giữ, bị can phải ký vào. Việc làm này của điều tra viên sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính khách quan của hồ sơ vụ án.

Trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, luật sư cũng cần chú ý tới phần tẩy xóa của bản cung. Về nguyên tắc khi tẩy xóa, thêm, bớt các ký tự trong biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung thì phải có chữ ký xác nhận của người bị tạm giữ, bị can vào bản cung đó. Nếu bản cung bị tẩy xóa mà không có chữ ký của người bị tạm giữ, bị can thì đó là sự vi phạm thủ tục tố tụng. Trong nhiều trường hợp, đây là căn cứ để VKS hoặc Tòa án yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Sau khi phát hiện ra những vi phạm tố tụng của điều tra viên, luật sư cần thận trọng kiểm tra, chụp ảnh hoặc sao chụp rõ những tài liệu phản ánh sai phạm. Luật sư phải nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật, các hướng dẫn, biểu mẫu của ngành công an, kiểm sát để chắc chắn điều tra viên đã sai phạm. Luật sư cần cân nhắc các phương án xử lý của bản thân đối với những sai phạm đó của điều tra viên, có thể chân thành, tế nhị trao đổi, góp ý với điều tra viên (nếu các sai phạm không nghiêm trọng để giúp điều tra viên có được thái độ tích cực khắc phục, rút kinh nghiệm). Luật sư cũng có thể gặp trực tiếp để trao đổi với điều tra viên (yêu cầu lập biên bản về buổi làm việc này). Trong trường hợp cần thiết, luật sự gửi văn bản đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên hoặc VKS để thông báo về sai phạm của điều tra viên. Các phương án xử lý phải hết sức linh hoạt trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích của thân chủ và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS.

4. Kỹ năng của luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự khi tham gia hoạt động điều tra

Trong vụ án hình sự, luật sư không chỉ tham gia với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội mà còn có thể được mời tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự khác theo quy định của BLTTHS thì:

Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

- Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, trong đó:

+ Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tôi phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hai;

+ Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà phải chịu trách nhiệm bối thường thiệt hại;

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.

Nếu như đối với người bị buộc tội pháp luật quy định những trường hợp bào chữa chỉ định thì khi bảo vệ cho bị hại, cho đương sự trong vụ án, luật sư chỉ tham gia khi được khách hàng mời. BLTTHS quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, của đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Để có thể bảo vệ tốt cho khách hàng, luật sư cần nắm chắc quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của luật sư khi tham gia vụ án.

5. Kỹ năng của luật sư khi tham gia hoạt động đối chất

Trước khi tiến hành đối chất, điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấp để cử KSV kiểm sát việc đối chất. Tuy vậy, điều luật không quy định điều tra viên phải thông báo cho luật sư, nhưng một trong những kỹ năng quan trọng của luật sư là phải chủ động đề nghị được tham gia đối chất, chuẩn bị các nội dung và trong trường hợp cần thiết, để nghị đặt câu hỏi để làm rõ các mẫu thuần trong lời khai giữa những người được đối chất.

Khi bắt đầu đối chất, điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất để họ xác định có biết nhau hay không, có quan hệ với nhau như thế nào, sau đó hỏi họ về những tình tiết đang còn có mâu thuẫn cần làm sáng tỏ. Điều tra viên để cho từng người tự trình bày lời khai của mình, có thể hỏi từng người xen kẽ trong quá trình đối chất. Trong trường hợp cần thiết điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, đồ vật, tài liệu và có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi nhau về những vấn để còn mâu thuẫn. Khi điều tra viên thực hiện những hoạt động này, luật sư phải chú ý quan sát, ghi chép đầy đủ những câu hỏi, nội dung trả lời của những người tham gia đối chất về những vấn đề mâu thuẫn. Khi được điều tra viên đồng ý, luật sư có thể trực tiếp hỏi người tham gia đối chất về những vấn để chưa rõ, còn mâu thuẫn. Trường hợp, khi những người tham gia đối chất đang khai hoặc đang trả lời các câu hỏi mà điều tra viên nhắc lại những lời khai trước của họ, luật sư cần có ý kiến để điều tra viên thực hiện đúng quy định của pháp luật là chỉ được nhắc lại khi họ đã khai xong hoặc trả lời xong nhằm đảm bảo tính khách quan của lời khai.

Trường hợp khi tiến hành đối chất, điều tra viên thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh thì luật sư phải yêu cầu trước khi bắt đầu tiến hành đối chất, điều tra viên phải thông báo cho những người tham gia đối chất biết và khi kết thúc phải phát lại băng ghi âm, ghi hình nội dung đối chất để điều tra viên và những người tham gia đối chất cùng nghe và ký xác nhận vào biên bản đối chất.

Kỹ năng của luật sư khi tham gia hoạt động nhận dạng: Thành phần tham gia nhận dạng, ngoài điều tra viên chủ trì, cán bộ điều tra, còn có người làm chứng, bị hại hoặc bị can, người chứng kiến theo quy định tại khoản 2 Điều 190 BLTTHS năm 2015. Luật sư cần chú ý trường hợp có bị hai là người nhận dang thì trước khi tiến hành, điều tra viên giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối và phải ghi vào biên bản.

Trước khi cho một người nhận dạng, điều tra viên phải hỏi người này về điều kiện hoàn cảnh có liên quan đến quá trình tri giác như thời gian quan sát, khoảng cách quan sát, điều kiện ánh sáng, thời tiết, màu sắc của đối tượng có ảnh hưởng gì cho việc nhận biết đối tượng không; những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được. Iuật sư cần tập trung cao độ để nghe, kết hợp ghi chép vào sổ tay của mình, đặc biệt cần ghi đầy đủ, chính xác những câu hỏi, câu trả lời về đặc điểm, vết tích có tính riêng biệt và tương đối ổn định của đối tượng nhận dạng bởi vì những đặc điểm, vết tích này có giá trị cao khi đánh giá kết quả nhận dạng. Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 178 BLTTHS năm 2015. Trong biên bản ngoài việc ghi theo quy định chung còn phải ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra nhân dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng.

6. Kỹ năng của luật sư khi tham gia hoạt động điều tra khác

Trong quá trình hành nghề, luật sư chưa có nhiều cơ hội gia các hoạt động tố tụng khác như chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dầu vết trên thân thể, thực nghiệm hoạt động điều tra, thu giữ vật chứng, định giá và bán đấu giá tài sản.

Trước đây, trong quá trình hành nghề, luật sư chưa có nhiều cơ hội gia các hoạt động tố tụng khác như chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm hoạt động điều tra, thu giữ vật chứng, định giá và bán đấu giá tài sản… Trừ một số vụ án liên quan đến các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp. Việc triệu tập luật sự để làm rõ các vấn đề liên quan việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, các dấu hiệu bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồ sơ vụ án… chưa được pháp luật TTHS quy định cũng như chưa được tiến hành trên thực tế.

Để giải quyết những bất cập nêu trên, BLTTHS năm 2015 quy định khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm (khoản 2 Điều 201 BLTTH năm 2015). Khi tham gia vào các hoạt động nói trên, luật sư vừa thu nhận được những thông tin cần thiết về vụ án vừa giám sát hoạt động của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng (ví dụ thành phần những người tham gia khám nghiệm hiện trường, thủ tục khai quật tử thi có đảm bảo tuân thủ đúng theo quy định trong BLTTHS hay không?).

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, nếu nắm được kế hoạch thực hiện các hoạt động điều tra của điều tra viên, luật sư cần sắp xếp thời hành trên thực tế để tham gia bởi sự có mặt và chứng kiến, giám sát của luật sư trong những hoạt động này không những làm cho Cơ quan điều tra, điều tra viên phải thực hiện công việc đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS mà còn kịp thời phát hiện ra những sai sót của Cơ quan điều tra (nếu có) từ đó có những kiến nghị kịp thời để nghị Cơ quan điều tra, điều tra viên khắc phục để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng mình nói riêng và pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung.

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, nếu luật sư nhận thấy cần thiết phải trưng cầu giám định, giám định lại, giám định bổ sung hoặc đối chất, khai quật tử thi… thì luật sư cần có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động đó và yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp cho mình kết qua giám định theo quy định của BLTTHS. Trong trường hợp bị can không được Cơ quan điều tra thông báo về kết quả giám định tư pháp, giám định về tài chính – kế toán hoặc định giá tài sản trong tố tụng hình sự, luật sư cần trao đổi xem cơ sở, căn cứ, phương pháp giám định, định giá có phù hợp không, từ đó kiến nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung, để nghị tổ chức đối chất với người có lời khai khác biệt với bị can… Đây là một kỹ năng rất quan trọng, tạo sợi dây liên kết, tin tưởng giữa luật sư và bị can.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập