1. Quy định về đối tượng khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính

Việc xác định đối tượng khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hành chính đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Sự nhầm lẫn trong việc xác định đúng đối tượng khiếu nại và tố cáo có thể dẫn đến lãng phí thời gian của các bên liên quan, đồng thời ảnh hưởng đến hiệu suất của Tòa án. Điều 327 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định những điều sau đây:

- Các cơ quan, tổ chức, và cá nhân có thẩm quyền khiếu nại về quyết định và hành vi trong quá trình tố tụng hành chính của cơ quan đó, hoặc của người thực hiện tố tụng hành chính, khi họ có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là vi phạm pháp luật, làm tổn thương quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, đối tượng khiếu nại trong tố tụng hành chính liên quan mật thiết đến những chủ thể tham gia vào quá trình này.

- Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án, nếu có sự kháng cáo, kháng nghị, và các quyết định tố tụng khác do người thực hiện tố tụng hành chính ban hành, nếu có khiếu nại hoặc kiến nghị, không được giải quyết theo quy trình của khiếu nại và tố cáo.

 

2. Làm gì để bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính?

Theo luật lệ hiện hành, công dân được đặc quyền có quyền tham gia vào quá trình thảo luận và bày tỏ ý kiến đối với các sự kiện liên quan đến tố tụng hành chính. Điều này được rõ ràng quy định trong Điều 28 của Văn bản hợp nhất số 30/VBHN-VPQH 2019 của Luật Tố tụng hành chính, nơi các quy định sau đây được thể hiện để đảm bảo quyền lợi của người khiếu nại và tố cáo:

- Các cơ quan, tổ chức, và cá nhân đều được trao quyền khiếu nại mà không phải chịu sự phân biệt. Cá nhân cũng có thể thực hiện nhiệm vụ giám sát và trong trường hợp phát hiện vi phạm, họ được quyền tố cáo những hành động, quyết định vi phạm pháp luật của cơ quan thực hiện tố tụng, người tiến hành tố tụng, hoặc bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia vào các hoạt động tố tụng hành chính.

- Khi nhận được đơn khiếu nại từ cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền không được phép từ chối giải quyết mà thay vào đó phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách kịp thời và theo đúng quy định của pháp luật. Họ cũng cần thông báo kết quả giải quyết bằng văn bản cho người khiếu nại và tố cáo.

Nội dung này đã được chi tiết quy định trong Điều 327 của Văn bản hợp nhất số 30/VBHN-VPQH 2019 của Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC), với các điểm sau đây:

+ Cơ quan, tổ chức, và cá nhân đều được trao quyền khiếu nại đối với quyết định và hành vi trong quá trình tố tụng hành chính của cơ quan đó hoặc của người tiến hành tố tụng hành chính, nếu họ có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

+ Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án, nếu có sự kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng hành chính ban hành, nếu có khiếu nại hoặc kiến nghị, không được giải quyết theo quy định của Chương này mà phải được xử lý theo quy định của các chương tương ứng trong Luật TTHC.

- Về quy trình khiếu nại, pháp luật cấp quyền cho người khiếu nại quyết định và thực hiện hành vi trong tố tụng hành chính một cách độc lập hoặc thông qua người đại diện pháp lý. Hoạt động khiếu nại có thể được thực hiện tại mọi giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án, và đối tượng khiếu nại được chấp thuận tại bất kỳ thời điểm nào. Cá nhân và tổ chức cũng có quyền rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.

Khi yêu cầu giải quyết một vấn đề cụ thể, người khiếu nại có quyền nhận thông báo văn bản về quá trình giải quyết hoặc kết quả giải quyết. Trong trường hợp này, họ sẽ nhận được văn bản trả lời về việc thụ lý của khiếu nại, quyết định giải quyết, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, cũng như được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Để đệ đơn khiếu nại tố cáo, người khiếu nại có trách nhiệm thực hiện các hoạt động khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết, cung cấp thông tin trung thực và tài liệu liên quan, đồng thời chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung và thông tin cung cấp. Pháp luật trao quyền cho cá nhân, nhưng nghiêm cấm hoạt động lạm dụng quyền này với mục đích cản trở quá trình tố tụng của Tòa án. Người khiếu nại cũng phải tuân thủ và thực hiện quyết định và hành vi của người tiến hành tố tụng mà họ đang khiếu nại, cũng như chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực theo Điều 328 của Luật Tố tụng hành chính.

- Cá nhân thực hiện quyền khiếu nại sẽ chỉ diễn ra trong một thời hạn cụ thể, được quy định là 10 ngày kể từ ngày mà người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định hoặc hành vi tố tụng hành chính mà họ cho rằng đã vi phạm pháp luật. Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, khi người khiếu nại không thể thực hiện quyền khiếu nại trong thời hạn quy định tại Điều này, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó sẽ không được tính vào thời hạn khiếu nại.

Đối với hình thức khiếu nại, cần phải thực hiện thông qua việc nộp đơn. Nội dung của đơn khiếu nại phải chứa đựng đầy đủ thông tin về ngày, tháng, năm; tên, họ, địa chỉ của người khiếu nại; cũng như chi tiết nội dung và lý do khiếu nại, đồng thời phải ghi rõ những yêu cầu cụ thể mà người khiếu nại mong muốn.

 

3. Quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo hành vi hành chính

- Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu:

Thời hạn giải quyết khiếu nại đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của đối tượng khiếu nại. Hiện tại, thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, bắt đầu từ ngày Tòa án hoặc Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trong trường hợp có vụ án phức tạp, thời hạn giải quyết có thể được kéo dài, nhưng không vượt quá 15 ngày từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.

Cá nhân có thẩm quyền phải đưa ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản, chứa đựng các thông tin quy định tại Khoản 1 Điều 334 của Luật Tố tụng hành chính. Quyết định này sau đó được gửi cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; nếu là quyết định của Chánh án Tòa án, còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Người khiếu nại sau khi nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có thời hạn 05 ngày làm việc để nếu không đồng ý hoặc nếu quá thời hạn quy định theo Điều 333 của Luật này mà khiếu nại không được giải quyết, họ có quyền khiếu nại lần hai. Quá trình khiếu nại lần hai phải tuân thủ quy trình làm đơn khiếu nại và kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu liên quan.

- Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai:

Căn cứ vào Điều 37 của Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPQH 2021 Luật khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không vượt quá 45 ngày từ ngày thụ lý. Trong trường hợp vụ án phức tạp, thời hạn giải quyết có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày từ ngày thụ lý.

Ngoài ra, thời hạn giải quyết cũng cần xem xét theo điều kiện thực tế, đặc biệt ở những khu vực khó di chuyển thì thời hạn không vượt quá 60 ngày từ ngày thụ lý; đối với vụ án phức tạp, thời hạn có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày từ ngày thụ lý.

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai phải ghi nhận kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu và đưa ra kết luận về từng vấn đề cụ thể trong khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai sau đó được gửi cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; nếu là quyết định của Chánh án Tòa án, còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Bài viết liên quan: Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo? 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!