1. Hình thức giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật Hình sự là gì ?
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) là tình tiết có trong một vụ án cụ thể, theo đó sẽ làm giảm trách nhiệm hình sự của người phạm tội khi lượng hình. Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
Căn cứ tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sử đổi bổ sung bởi năm 2017
- Người phạm tội đã làm giảm bớt tác hại hoặc ngăn chặn tác hại của tội phạm. Việc ngăn chặn do người phạm tội tự giác làm hoặc có thể bắt làm nhưng vẫn làm. Mức giảm sẽ phụ thuộc vào thái độ của người phạm tội nếu như tự hành động sẽ có lợi hơn.
- Người phạm tội đã khắc phục hậu quả hoặc bồi thường thiệt hại và tự nguyện sửa chữa thiệt hại mình gây ra. Các tình tiết này có nét tương đồng nhau về bản chất nên được quy định trong cùng một điểm để áp dụng cho người phạm tội. Người phạm tội có thể đáp ứng một trong ba tình tiết này.
- Người thực hiện hành vi vi phạm trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Tình tiết này có thể hiểu người phạm tội phòng vệ đối với hành vi của người khác nhưng vướt quá mức cần thiết. Mức cần thiết có thể do người phạm tội nhận biết được hoặc không nhận biết được. Căn cứ vào yếu tố này sẽ xem xem mức giảm nhẹ cho người phạm tội
- Người thực hiện hành vi vi phàm khi vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết mà mình cần phải thực hiện. Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là tình trạng một người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là gây thiệt hại bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa .
- Người thực hiện hành vi vi phạm vượt qua mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội. Thông thường những người đang thực thi công vụ được áp dụng tình tiết này, cụ thể nếu người thực thi công vụ giết người hoặc khống chế người phạm tội gây ra thiệt hại cho người phạm tội thì có thể được coi là vượt quá mức khi bắt giữ người phạm tội.
- Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Trường hợp này là người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần và không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình do nạn nhân khiêu khích...
-Người thực hiện hành vi vi phạm do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra” được hiểu là trường hợp bản thân người phạm tội đang gặp phải khó khăn đặc biệt về vật chất hoặc tinh thần và những khó khăn này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc người đó thực hiện hành vi phạm tội để khắc phục hoàn cảnh khó khăn.
- Người phạm tội tuy nhiên chưa gây ra thiệt hại hoặc gây thiệt hại nhưng không lớn. Chưa gây thiệt hại là khi tội phạm đã được thực hiện, nhưng thiệt hại không xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội.
Ngoài ra còn một vài tình tiết giảm nhẹ như lần đầu phạm tội và phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức nên mới phạm tội; người phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; người phạm tội do lạc hậu. Có thể hiểu là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội có nhận thức kém về tính trái pháp luật của hành vi họ thực hiện, hoặc hành động theo phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thói quen cổ hủ, lạc hậu mà không biết là mình phạm tội (mặc dù pháp luật quy định buộc phải biết). Đối với những trường hợp này, họ có hành vi trái với pháp luật nhưng lại cho rằng phù hợp với lợi ích xã hội; Người phạm tội là phụ nữ có thai; Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; Phạm tội tự thú: Tình tiết này có ý nghĩa khi người thực hiện hành vi vi phạm sau đó ra cơ quan có thẩm quyền tự khai nhận về hành vi của mình; Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; Là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ
Như vậy nếu có một trong các tình tiết nêu trên được coi là tình tiết giảm nhẹ. Nếu có một trong các tình tiết trên thì người phạm tội cần chứng minh và làm đơn xin giảm nhẹ tội
2. Có bằng khen về làm từ thiện có được giảm nhẹ tội không?
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó có một tình tiết liên quan đến việc làm từ thiện nhiều, đó là: “Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác”.
Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn về tình tiết "người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác".
Tuy nhiên, có thể tham khảo quy định tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP và Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP. Theo đó Mục 5 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP có giải thích Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo hoặc có sáng chế phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận là chiến sỹ thi đua…
Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP cũng quy định một trong các điều kiện để người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể được rút ngắn thời gian thử thách là “lập thành tích trong lao động sản xuất, bảo vệ an ninh Tổ quốc... được cơ quan cấp tỉnh trở lên khen thưởng”
Như vậy, từ những vấn đề nêu trên có thể thấy nếu người làm từ thiện nhiều mà có huân chương, bằng khen,… thì có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Theo quy định của pháp luật thì khi quyết định hình phạt Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vây, nếu bị can có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng lại có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc xét thấy tính chất mức độ của hành vi vi phạm là đặc biệt nghiêm trọng thì bị can, bị cáo vẫn phải chịu mức chế tài nghiêm khắc của pháp luật.
3. Hồ sơ xin giảm nhẹ hình phạt
* Đơn xin giảm nhẹ hình phạt: Đơn xin được giảm nhẹ hình phạt là văn bản được sử dụng để xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017 và được gửi cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi có căn cứ giảm nhẹ hình phạt thì bị cáo bị tuyên án phạt tù thường có xu hướng làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt tù, hoặc trong một số trường hợp nhất định, bị hại cũng có thể làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Nội dung của đơn xin giảm nhẹ hình phạt trong vụ án hình sự gồm:
- Quốc hiệu, tiêu ngữ
- Địa điểm,ngày, tháng,năm làm đơn
- Tên đơn: đơn xin giảm nhẹ hình phạt
- Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra đang giải quyết vụ án hình sự
- Họ và tên, ngày tháng năm sinh, số chứng minh thư (bao gồm cả số, ngày cấp, nơi cấp), nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, chỗ ở hiện tại của người làm đơn
- Tóm tắt vụ án cần được giảm nhẹ hình phạt
- Lý do giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
- Tài liệu chứng cứ kèm theo các tình tiết giảm nhẹ hình phạt;
- Ký tên và điểm chỉ làm chứng cuối đơn xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tài liệu chứng cứ kèm theo
* Tài liệu chứng cứ kèm theo: Kèm theo đơn xin giảm nhẹ hình phạt bắt buộc phải nêu các tài liệu, chứng cứ kèm theo chứng minh cho các tình tiết giảm nhẹ để đảm bảo các tình tiết giảm nhẹ đưa ra là khách quan, làm căn cứ cho quyết định giảm án của Tòa án trước những người bị hại. ( ví dụ văn bản bồi thường thiệt hại, giấy xác nhận là người cao tuổi, siêu âm có thai...)
4. Có mấy tình tiết giảm nhẹ mới được hưởng án treo?
Theo Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP sửa đổi Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP có quy định về tình tiết giảm nhẹ khi hưởng án treo, theo đó để được hưởng án treo, người phạm tội cần đáp ứng 6 điều kiện sau:
Thứ nhất: Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
Thứ hai: Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
- Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật (trước đây quy định là 06 tháng) nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;
- Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo; (Đây là nội dung mới bổ sung)
- Đối với người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo. (Đây là nội dung mới bổ sung)
Thứ ba: Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó:
- Có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Lưu ý: trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Thứ tư: Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.
Trong đó:
- Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.
- Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Thứ năm: Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu:
- Người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội;
- Không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ sáu: Một nội dung mới bổ sung là khi xem xét, quyết định cho bị cáo hưởng án treo Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP.
Như vậy tình tiết giảm nhẹ chiếm vai trò quan trọng trong quá trình Toà án xem xét, đặc biệt là xem xem về trường hợp được hưởng án treo. Theo đó, người phạm tội chỉ cần đáp ứng có một tình tiết giảm nhẹ nêu tại mục 1 bài viết thì đã xem xét để hưởng án treo trừ trường hợp người phạm tội có một tình tình tăng nặng thì phải có tình tiết giảm nhẹ gấp 2 lần tình tiết tăng nặng ( ví dụ như có 2 tình tiết tăng nặng thì phải có 4 tình tiết giảm nhẹ) và tình tiết giảm nhẹ phải chứa 1 tình tiết theo mục 1.