các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định pháp luật về hoạt động từ thiện.

1. Tổng hợp một số quy định về tổ chức vận động, kêu gọi đóng góp và tiếp nhận hàng, tiền từ thiện

1.1. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có quyền vận động, kêu gọi, đóng góp tiền hàng, tiền cứu trợ

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 64/2008/NĐ-CP, chủ thể có quyền gồm có: 

- Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện

-  Hội Chữ thập đỏ Việt Nam;

- Các quỹ xã hội, quỹ từ thiện quy định tại Nghị định 93/2019/NĐ-CP;

- Các cơ quan thông tin đại chúng như các báo, đài; các tổ chức đơn vị của quỹ xã hội, quỹ từ thiện.

Trong các chủ thể trên, không phải tất cả đều có thể thực hiện quyền vận động, kêu gọi, đóng góp như nhau mà chỉ được thực hiện quyền trong các trường hợp nhất định theo quy định pháp luât. Ví dụ: Các quỹ xã hội, quỹ từ thiện được phép vận động đóng góp hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng theo quy định của pháp luật; Các cơ quan báo đài hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được phép vận động đóng góp hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng theo quy định của pháp luật.

1.2. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tiếp nhận và phân phối tiền hàng, tiền cứu trợ

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 64/2008/NĐ-CP, các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tiếp nhận và phân phối tiền hàng, tiền cứu trợ gồm:

- Các cơ quan, tổ chức có quyền vận động, kêu gọi, đóng góp từ thiện như trên.

Các tổ chức, đơn vị ở Trung ương được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho phép; các tổ chức, đơn vị ở địa phương được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, cấp huyện cho phép.

- Đối với các cơ quan, đơn vị tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ của tập thể, cá nhân thuộc đơn vị mình đóng góp để cứu trợ đồng bào, các địa phương bị thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng thì toàn bộ số tiền huy động được, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm nộp trực tiếp vào tài khoản của Ban Cứu trợ cùng cấp theo quy định.

Ngoài các tổ chức, đơn vị nêu trên, không một tổ chức, đơn vị, cá nhân nào được quyền tổ chức tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ.

2. Cá nhân tiếp nhận và phân phối tiền hàng, tiền cứu trợ có bị xử phạt vi phạm hành chính không ?

Câu hỏi: Thưa Luật sư, tôi thấy quy định rằng cá nhân không được phép tiếp nhận tiền hàng, tiến cứu trợ. Trường hợp cá nhân vi phạm quy định này có bị xử phạt vi phạm hành chính không ? Làm thế nào để không bị xử phạt thưa luật sư?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP, chỉ có các chủ thể được quy định thì không một tổ chức, cá nhân nào được phép tiếp nhận và phân phối tiền hàng, tiền cứu trợ. Vậy trường hợp các tổ chức, cá nhân không có quyền mà lại tiếp nhận và phân phối thì có bị xử phạt hay truy cứu trách nhiệm hay không?

Thực chất hiện nay có rất nhiều trường hợp cá nhân tiếp nhận tiền hàng và tiền cứu trợ từ nhiều nguồn đóng góp nhưng chưa có quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này nên các chủ thể không thuộc quy định tại Điều 5 dù tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ nhưng chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Vậy, cá nhân làm cách nào để thực hiện đúng quy định về hoạt động từ thiện ?

Hoạt động từ thiện của cá nhân có thể được thực hiện thông qua các phương thức sau:

- Thứ nhất, trực tiếp sử dụng tài sản của mình tặng cho các đối tượng cần giúp đỡ.

Thứ hai, quyên góp tiền hoặc hiện vật cho các tổ chức, đơn vị theo quy định tại Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP có quyền tiếp nhận và phân phối tiền hàng.

Thứ ba, đây là trường hợp nhiều cá nhân đóng góp tiền, hiện vật cho một cá nhân khác để người đó thay mặt những người đóng góp trao tặng tài sản đóng góp cho những trường hợp cần thiết. Việc làm từ thiện này không tuân theo quy định pháp luật, mà chủ yếu hình thành mối quan hệ uỷ quyền dân sự giữa người quyên góp và người nhận tiền quyên góp. Cụ thể, người nhận tiền quyên góp sẽ chịu trách nhiệm thay mặt cho người quyên góp chuyển số tiền, hàng cứu trợ đó đúng các đối tượng, trường hợp theo mong muốn của người quyên góp. Việc minh bạch trong việc phân phối hàng và tiền cứu trợ có thể được thực hiện theo yêu cầu của người quyên góp. 

3. Xử phạt đối với hành vi xử dụng tiền cứu trợ, từ thiện sai mục đích

Câu hỏi: Thưa Luật sư, trường hợp cá nhân tiếp nhận tiền đóng góp từ nhiều người để cứu trợ đồng bào miền Trung gặp lũ lụt nhưng lại không thực hiện đúng nguyện vọng của những người đã gửi tiền mà lại sử dụng vào mục đích ủng hộ cho các trường hợp khác mà cá nhân muốn thì bị truy cứu trách nhiệm như thế nào ?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 144/2013/NĐ-CP, các hành vi vi phạm quy định về quản lý tiền hàng, tiền cứu trợ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:

Điều 8. Vi phạm quy định về quản lý tiền, hàng cứu trợ

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Để hư hỏng, thất thoát tiền, hàng cứu trợ;

b) Sử dụng, phân phối tiền, hàng cứu trợ không đúng mục đích, không đúng đối tượng của nhà tài trợ;

c) Chiếm đoạt tiền, hàng cứu trợ.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm tại Điểm c Khoản 1 Điều này.

Như vậy, trường hợp sử dụng tiền cứu trợ không đúng mục đích, không đúng đối tượng của nhà tài trợ sẽ có thể bị xử phạt từ 5.000.000 đồng - 10.000.000 đồng.

4. Truy cứu trách nhiệm đối với hành vi chiếm đoạt tiền từ thiện

Câu hỏi: Thưa luật sư, trường hợp cá nhân chiếm đoạt tiền từ thiện được các cá nhân, tổ chức, mạnh thường quân quyên góp để ủng hộ đồng bào miền Trung thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm như thế nào ?

Trả lời:

Trước tiên, về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP thì hành vi chiếm đoạt tiền, hàng cứu trợ nếu chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cá nhân sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền nộp phạt từ 5.000.000 - 10.000.000 đồng. Kèm theo đó là biện pháp khắc phục hậu quả là nuộc phải nộp lại số lợi bất chính thu được.

Thứ hai, về truy cứu trách nhiệm hình sự, các dấu hiệu chiếm đoạt tiền, hiện vật từ thiện, cá nhân thực hiện hành vi này, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản tuỳ theo cách thức có được tài sản và giá trị của tài sản chiếm đoạt được. Cụ thể như sau:

- Nếu cá nhân có mục đích ban đầu là muốn chiếm tiền, hàng cứu trợ làm của riêng và sau đó sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc giả mạo, mạo danh người khác để kêu gọi mọi người đóng góp tiền, hàng cho mình. Sau khi nhận được tiền hàng rồi thì chiếm đoạt. Giá trị tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên thì đây gọi là Lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể tội này được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

- Nếu cá nhân có mục đích ban đầu đúng là làm từ thiện nhưng sau khi thấy số tiền hoặc hiện vật chuyển cho mình nhiều quá, nảy lòng tham và thực hiện việc chiếm đoạt tài sản này sau đó dùng thủ đoạt gian dối để lấm liếm, che đậy. Giá trị tài sản, hiện vật từ 4.000.000 đồng trở lên thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội này được quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Tóm lại, tuỳ từng hành vi vi phạm, tính chất, mức độ và giá trị tài sản chiếm đoạt, người thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền, hàng cứu trợ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp chiếm đoạt tiền, hàng cứu trợ đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà chưa được xoá án tích mà lại tái phạm, dù giá trị tài sản không đến mức xử lý hình sự nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, cá nhân, khi đã nhận tiền, hàng đóng góp, cứu trợ, cần thực hiện đúng nguyện vọng của người đóng góp tránh để mất danh dự, uy tín đồng thời phải chịu các trách nhiệm pháp lý không đáng có.

5. Xử lý vi phạm trong trường hợp chậm phân phối hàng, tiền cứu trợ

Hiện nay, các quy định về điều chỉnh hoạt động từ thiện mới chỉ áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Nghị định 64/2008/NĐ-CP bao gồm cả quy định về việc phải phân phối hàng, tiền cứu trợ khi nào mà chưa quy định trách nhiệm đối với cá nhân khác. Do đó, trong trường hợp xảy ra vi phạm về thời gian phân phối tiền, hàng cứu trợ, chúng tôi xin chia ra hai trường hợp như sau:

Thứ nhất, đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu sự điều chỉnh của Nghị định 64/2008/NĐ-CP thì bắt buộc phải tuân theo quy định về thời hạn phân phối hàng, tiền cứu trợ tại khoản 3 Điều 7 như sau:

3. Thời gian phân phối tiền, hàng cứu trợ được thực hiện ngay trong quá trình vận động đóng góp và kết thúc chậm nhất không quá 20 ngày, kể từ ngày kết thúc thời gian vận động đóng góp được quy định tại khoản 2 Điều này.

Riêng cứu trợ phục hồi và tái thiết được hỗ trợ từ nguồn vận động đóng góp của Hội Chữ thập đỏ thì thời gian thực hiện có thể kéo dài đến một năm.

Trường hợp xảy ra vi phạm, theo quy định tại Điều 22 thì tuỳ mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, đối với trường hợp cá nhân không thuộc đối tượng quy định tại Nghị định 64/2008/NĐ-CP tự vận động đóng góp và tiếp nhận hàng cứu trợ. Việc truy cứu trách nhiệm về việc vi phạm thời gian thực hiện phân phối tiền chỉ xảy ra khi các chủ thể đóng góp, uỷ quyền trao tặng tiền, hàng có đơn tố cáo hoặc đơn khởi kiện. Người vi phạm thời gian phân phối có thể bị xử phạt vi phạm hành chính tuỳ theo tính chất của hành vi vi phạm như:

- Xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi chiếm đoạt tài sản;

- Bồi thường khi việc chậm phân phối hàng, tiền cứu trợ làm hàng hoá bị hư hỏng, tiền bị rớt giá,...

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê