1. Lắp đèn pha led siêu sáng thì có bị xử phạt không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Cho em hỏi là xe em có thay đèn pha zin sang đèn pha led siêu sáng, bị CSGT bắt vì đèn có cường độ quá sáng, phạt từ 350k-500k như vậy có đúng không ạ, và CSCĐ có được quyền dừng xe không ạ?
Cảm ơn luật sư!
Người gửi : Trần Đ. K.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

Luật giao thông đường bộ 2008 có quy định:

Điều 55. Bảo đảm quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ

1. Việc sản xuất, lắp ráp, cải tạo, sửa chữa, bảo dưỡng và nhập khẩu xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ phải tuân theo quy định về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Không được cải tạo các xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách.

2. Chủ phương tiện không được tự thay đổi kết cấu, tổng thành, hệ thống của xe không đúng với thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

3. Xe ô tô và rơ moóc, sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô tham gia giao thông đường bộ phải được kiểm tra định kỳ về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (sau đây gọi là kiểm định).

4. Người đứng đầu cơ sở đăng kiểm và người trực tiếp thực hiện việc kiểm định phải chịu trách nhiệm về việc xác nhận kết quả kiểm định.

5. Chủ phương tiện, người lái xe ô tô chịu trách nhiệm duy trì tình trạng an toàn kỹ thuật của phương tiện theo tiêu chuẩn quy định khi tham gia giao thông đường bộ giữa hai kỳ kiểm định.

6. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định điều kiện, tiêu chuẩn và cấp giấy phép cho cơ sở đăng kiểm xe cơ giới; quy định và tổ chức thực hiện kiểm định xe cơ giới. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định và tổ chức kiểm định xe cơ giới của quân đội, công an sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

Do vậy, đối với thắc mắc việc bạn thay bóng đèn pha của xe thành bóng đèn led siêu sáng có vi phạm luật giao thông không? Hành vi như trên của bạn được coi là hành vi tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe, do vậy có thể bị xử phạt theo quy định tại Khoản 8 Điều 1 Nghị định 107/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 30 của Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể như sau:

"Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe;

d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông."

- Về câu hỏi "cảnh sát cơ động có được quyền dừng xe hay không"?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Thông tư 01/2016/TT-BCA quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông:

"2. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau:

a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;

b) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên;

c) Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên;

d) Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;

đ) Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông;"

Như vậy, theo quy định trên, CSCĐ chỉ được dừng xe để kiểm tra hành chính nếu như thỏa mãn các quy định tại Điều 12 của Thông tư 01.2016/TT-BCA.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông trong năm 2020 thì phải bồi thường những gì ?

2. Đi ngược chiều gây ra tai nạn giao thông xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, Mấy hộm trước, có 1 người đi xe máy ngược chiều trên đường 1 chiều và đã đâm vào tôi. Mặc dù tôi đã cố tránh đi nhưng do tay lái tôi yếu nên vẫn bị người đó đâm phải và bị trầy xước chảy máu, cũng may là không bị gãy xương.
Lúc xảy ra tai nạn lại không có cảnh sát ở gần, đồng thời hôm đó tôi phải nghỉ làm vì vết thương quá đau. Người đó có để lại số điện thoại cho tôi và bảo tôi gọi vào số đó để người đó trả tiền bồi thường. Xin hỏi mức bồi thường mà người đó phải chịu là gì?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn:

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Điều 9. Quy tắc chung

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.”

Theo khoản 4 điều 6 Nghị định 46/2016/NĐ-CP nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định về mức xử phạt về lỗi đi ngược chiều như sau:

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

4. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

Theo đó, ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 tháng đến 03 tháng khi đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, người điều khiển xe mô tô đi ngược chiều của đường một chiều thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe đi ngược chiều còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 1 tháng đến 3 tháng.

Trường hợp của bạn là người đi ngược chiều kia đã gây ra tai nạn cho bạn, do bạn bị chỉ bị trầy sước và không bị thương nặng, nên người này có trách nhiệm bồi thường cho bạn theo quy định của BLDS 2015.

Theo đó, Điều 584 BLDS 2015 quy định căn cứ pháp sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

+ Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

+ Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Nếu hai bạn có thể tự thỏa thuận mức bồi thường cho nhau thì mức bồi thường do hai bạn thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được mức bồi thường thì bạn có thể kiện ra TAND cấp huyện nơi người đó đang cư trú để đòi bồi thường thiệt hại.

Tuy nhiên, để có căn cứ khởi kiện bồi thường hay tố giác thì người đi ngược chiều gây ra tai nạn phải chứng minh được hành vi có lỗi của người đó. Khi xảy ra tai nạn giao thông không có sự có mặt của công an để lập biên bản. Do đó, nếu bạn khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại thì Tòa sẽ chủ yếu dựa trên lập luận của hai bên để xác định lỗi.

Trong trường hợp Tòa án xác định có lỗi của người đi ngược thì người đi ngược chiều phải bồi thường những chi phí căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

- Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định về hiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.

Như vậy, người đi ngược chiều sẽ phải bồi thường cho bạn chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe. Người đi ngược chiều cũng phải bồi thường cho bạn thu nhập 1 ngày lương mà bạn đã nghỉ do bị tai nạn. Đồng thời, người đó còn phải trả chi phí bồi thường tổn thất về mặt tinh thần mà bạn phải gánh chịu.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Khi nào phải phẫu thuật người chết trong vụ tai nạn giao thông ?

3. Mức bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực giao thông đường bộ?

Luật sư cho em hỏi thắc mắc này với ạ: Vợ em gây tai nạn giao thông đang điều khiển xe máy thì có 1 người phụ nữ đi xe đạp lấn sang phần đường và xô vào nhau, vợ em chở hai con nhỏ 1 cháu 7 tuổi và 1 cháu 3 tuổi, vợ em bị thương nặng, hai cháu bị thương nhẹ , người phụ nữ đi xe đạp bị thương nặng hơn vợ em.Trong trường hợp này thì bồi thường như thế nào là hợp lý?
Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.V.H

Trả lời:

Điều 623 Bộ luật Dân sự 2005(bộ luật thay thế BLDS 2015) quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như sau:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Theo quy định trên, thì người điều khiển phương tiện cơ giới phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hoặc xảy ra trong trường hợp bất khả kháng; tình thế cấp thiết. Như vậy, trong trường hợp này, vợ bạn phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi do vợ bạn là người đang trực tiếp điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ.

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

>> Xem thêm:  Tư vấn về hợp đồng ủy quyền mua bán xe máy ? Thủ tục cấp lại giấy tờ xe

4. Công an xử phạt mà không đưa biên lai có đúng luật không ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Sáng nay tầm 0h 30p trên đường đi làm về, tôi bị 1 tốp CSCĐ và CSGT ra dấu hiệu dừng xe lại và xin kiểm tra hành chính.
Tôi không có bảo hiểm xe và bị phạt 100.000VND. Tôi đóng phạt nhưng không có giấy tờ biên bản hay biên lai nào. Lúc tôi tham giao thông tôi không hề uống rượu bia, tốc độ chạy ở 20km/h và xe thì có đèn, gương chiếu hậu đầy đủ. Xin hỏi việc tôi bị phạt như vậy có đúng với thủ tục hành chính không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: L.H

Trả lời:

Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP: Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

Như vậy, trường hợp của bạn không có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ nên mức phạt trung bình 100.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

"Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản.

2. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của cá nhân vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; chứng cứ và tình tiết liên quan đến việc giải quyết vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định xử phạt; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt."

Như vậy, với mức phạt 100.000 đồng thì không phải lập Biên bản vi phạm hành chính mà chỉ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người?

5. Chưa đủ 18 tuổi gây tại nạn phải chịu trách nhiệm như thế nào ?

Kính gửi Luật sư, Em có người em gái có điều khiển phương tiện giao thông (em gái chưa đủ 18 tuổi) và va chạm với một xe chở 3 người. Khi xảy ra tai nạn thì bên bị va chạm đã dọn dẹp hiện trường và không báo cho công an giải quyết. Sau đó có liên hệ bên em để đòi tiền bồi thường (gồm 3 lần), mỗi lần đều tăng số tiền khá cao.

Họ đã đi đến bệnh viện điều trị tổn thương nhưng không có giấy tờ hợp pháp nào chứng minh họ đã đến bệnh viện điều trị. Bên em không chịu đưa nên họ đã báo cho công an quận. Công an quận tiến hành lập hiện trường lại xác định lỗi do bên em và đã làm Biên bản tạm giữ xe trong 7 ngày (chỉ có Biên bản tạm giữ mà không có Quyết định). Trong Biên bản không có người chứng kiến, chỉ do cá nhân của một công an đứng ra lập Biên bản và có đóng mộc vuông của Đội cảnh sát giao thông quận. Luật sư cho em hỏi là:

- Quy trình tạm giữ xe như thế là đúng hay sai? Bây giờ em muốn lấy lại xe được không? Đến nay vẫn chưa giải quyết dù đã hơn 1 tháng.

- Nếu tiến hành tố tụng hình sự thì sẽ như thế nào? Còn nếu trách nhiệm dân sự thì em gái của em sẽ chịu như thế nào? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất: Quy trình điều tra và tạm giữ xe:

Sau một thời gian báo xảy ra tai nạn thì bên kia mới báo với công an nên phía công an phải tiến hành dựng lại hiện trường theo Điều 11 Quyết định 18/2007/QĐ-BCA(C11) Quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ:

"Điều 11. Dựng lại hiện trường

1. Trong quátrình điều tra vụ tai nạn giao thông nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáotrộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết thì tổ chức dựng lại hiện trường.Khi dựng lại hiện trường nhất thiết phải có người chứng kiến, có thể mời người liên quan cùng tham gia.

2. Nội dung dựng lại hiện trường là phải xác định lại vị trí dấu vết, người bị nạn, phươngtiện để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tìnhtiết khi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụpảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu.

3. Kết thúcviệc dựng lại hiện trường phải lập biên bản, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản".

Khi dựng lại hiện trường nhất thiết phải có người chứng kiến, có thể mời người liên quan cùng tham gia. Kết thúc việc dựng lại hiện trường phải lập biên bản, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản. Nhưng trong biên bản trên lại thiếu chữ ký của người làm chứng. Như vậy, có sự vi phạm về thủ tục lập biên bản."

Theo Khoản 1 Điều 10 Quyết định 18/2007/QĐ-BCA về tạm giữ phương tiện giao thông:

"Điều 10. Tạm giữ phương tiện giao thông và người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan

1. Tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan:

a) Khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ;

b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị Cảnh sát giao thông tạm giữ phương tiện có trách nhiệm bàn giao phương tiện bị tạm giữ cùng với hồ sơ vụ án cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền;

c) Trường hợp tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì phương tiện giao thông bị tạm giữ được xử lý như sau:

- Đối với vụ tai nạn sau khi khám nghiệm phương tiện xong, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi thì phương tiện phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện;

- Các trường hợp khác việc tạm giữ phương tiện phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành và các quy định khác của pháp luật có liên quan."

Chú ý: Khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

Ta thấy, khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ.

Về thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông theo quy định tại Khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 của Quốc hội:

"8. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này".

Thời hạn phương tiện vi phạm hành chính là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Từ đây ta nhận thấy, việc tạm giữ cũng như thời hạn tạm giữ phương tiện giao thông của công an quận là không sai nhưng Biên bản không có chữ ký của người làm chứng là trái quy định pháp luật.

Thứ hai: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo Điều 605 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường".

Theo Khoản 4 Điều 17 Quyết định 18/2007/QĐ-BCA:

"4. Giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường:

- Trường hợp các bên liên quan tự thương lượng thỏa thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thỏa thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan. Thỏa thuận bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét ra quyết định xử lý hành chính;

- Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông không tự thỏa thuận thương lượng được với nhau thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự".

Như vậy, các bên có thể thương lượng khắc phục hậu quả hoặc không thương lượng được thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại