Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự năm 2005

 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009

2. Luật sư tư vấn

Xin chào luật sư. Bạn mình có thuê một chiếc ôtô của người quen để đi du lịch cùng gia đình. Vì để được tin tưởng hơn nên đã đưa cho bà kia 1 chiếc nhẫn kim cương( giá trị lớn hơn chiếc) và hẹn khi nào đi về sẽ hoàn trả lại tài sản cho nhau. Nhưng khi bạn mình đi du lịch về thì bà kia trốn tránh không trả. Sau nhiều lần thì nói là đã bán nhẫn và ngỏ ý muốn sang tên lại cho bạn mình nhưng không chịu trả phần chênh lệch. Xin hỏi luật sư việc này phải giải quyết như thế nào?

Căn cứ quy định tạo điều 358, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

" Điều 358. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản.

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

2. Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác". 

Như vậy, trường hợp này để đảm bảo hợp đồng thuê xe thì người bạn đó đã đặt cọc chiếc nhẫn kim cương có giá trị lớn hơn chiếc xe nhưng bên chủ xe tự ý bán nhẫn và không chịu trả chênh lệch căn cứ quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005

" Điều 464. Thanh toán giá trị chênh lệch

Trong trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác". 

Như vậy, nếu như người chủ cho thuê xe không trả phần giá trị chênh lệch thì người bạn thuê xe có quyền gửi đơn đến cơ quan công an yêu cầu giải quyết, trường hợp gái trị tài sản lớn thì người bạn thuê xe có quyền làm đơn khởi kiện người chủ xe để đảm bảo quyền và lợi ích của mình. 

Tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: vào ngày 18-10-2015 tôi có cho bạn mới quen cùng đến chơi tại nhà 1 người bạn mượn chiếc xe moto honda ware.nhưng sau đó tôi biết nên đòi lại thì không có phản hồi lại, tôi đã báo công an phường nhưng công an phường cũng không quan tâm. Vậy làm thế nào để tôi có thể lấy lại tài sản trên ? Xin cảm ơn luật sư

Căn cứ vào Điều 140Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009  về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

>> Xem thêm:  Vay hỗ trợ trả góp và mua điện thoại trả góp mà mất khả năng lao động thì bị xử lý thế nào ?

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

>> Xem thêm:  Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay xử lý thế nào ?

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này". 

Như vậy, trong trường hợp này, có việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một thỏa thuận mượn xe máy. Trường hợp này người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản ( ý thức chiếm đoạt tài sản ) cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đó, nếu cơ quan phường giải quyết thì bạn có quyền làm đơn kiện người mượn tài sản lên Tòa án nhân dân nơi người đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú theo quy định của pháp luật. 

Thưa luật sư, Nhà em hiện tại do bác 2 và vợ đứng tên nhưng dì em nói họ chỉ đại diện đứng tên trên giấy tờ (do lúc trước bác 2 tự ý đi làm sổ hồng nhưng người ta không đồng ý, yêu cầu tất cả mọi người trong gia đình ký tên trên biên bản lúc đó bác 2 được đại diện đứng tên), nếu sau này có chia tài sản thì mọi người vẫn có phần. Luật sư cho em hỏi như vậy có đúng không? Hay ai đứng tên thì người đó hưởng, còn những người khác thì không? Và nếu không thì những người còn lại có quyền thưa không? Em cám ơn luật sư.

 Theo thông tin bạn đưa ra thì mọi người có ký tên vào biên bản đồng ý cho bác 2 làm đại diện tài sản chung của mọi người là hoàn toàn hợp pháp. Căn cứ quy định Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 107. Đại diện của hộ gia đình

1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.

Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự.

2. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình" 

>> Xem thêm:  Vay tiền có giấy viết tay, tin nhắn nợ tiền thì có khởi kiện để đòi nợ được không ?

Như vậy, người đại diện chỉ thực hiện đại diện trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của mọi người, còn vấn đề quyết định tại sản chung thì căn cứ quy định như sau: 

" Điều 223. Định đoạt tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.

Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại". 

Do đó, bác 2 chỉ là người đại diện gia đình thực hiện các giao dịch dân sự. Còn việc định đoạt tài sản thì những người có phần vẫn có quyền tự định đoạt phần tài sản của mình và bác 2 không có quyền định đoạt tài sản của người khác. 

Cháu muốn hỏi một sự việc như thế này ạ: hôm thứ 3 vừa rồi cháu có đi học về trên đường đi học về cháu bị một đối tượng đi theo , giả vờ là hỏi đường rồi đối tượng đó dẫn dắt là làm ở trung tâm bộ giáo dục, tuyển sinh viên đi phát tờ rơi sau đó lôi kéo cháu đi làm , rồi đối tượng bảo cháu có điện thoại không lấy ra trả vờ gọi vào 1 số điện thoại rồi cầm máy của cháu, trả vờ gọi rồi nói chuyện, cháu sơ suất để đối tượng cầm điện thoại rồi đối tượng lừa cháu phóng xe đi mất , tài sản trị giá 700k . Cũng có 1 bạn bị lừa giống cháu cũng là đối tượng đó, là 1 điện thoại Iphone 4s . Như vậy, chúng cháu có thể truy tố đối tượng chưa ạ ? và thủ tục làm như thế nào ạ ? mong luật sư giúp đỡ cháu ạ.

Pháp luật quy định cơ quan có thẩm quyền truy tố là Viện Kiểm sát. Công dân chỉ có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện những hành vi làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình, của người khác trong từng trường hợp cụ thể. 

Trường hợp này, nếu bạn có chứng cứ chứng minh người đó cướp giật tài sản của bạn thì bạn có thể báo với cơ quan công an xã, phường gần nhất để có thể điều tra. Hoặc bạn có quyền khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện, quận nơi xảy ra vụ việc bạn bị cướp giật với nội dung cướp giật tài sản. Hành vi phạm tội nhiều lần của đối tượng sẽ được cơ quan điều tra làm rõ. Mẫu đơn khởi kiện bạn có thể tham khảo tại đây

>> Xem thêm:  Mẫu bản luận cứ bảo vệ vụ việc đòi nợ mới nhất năm 2020

Tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: gia đình tôi có con chết không để lại tài sản, vậy nay gia đình tôi muốn chuyển tài sản đó cho mẹ của người con đã chết thì thủ tục làm như thế nào a ?

 Để có thể chuyển được tài sản đó cho người mẹ của người con đã chết một cách hợp pháp thì gia đình bạn có thể lập một văn bản tặng cho tài sản cho người mẹ đó. Văn bản tặng cho tài sản hợp pháp thì sau khi lập văn bản có thể công chứng, chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã phường nơi có tài sản tặng cho. 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư Dân sự - Công ty luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?