"Đầy ắp phiền luỵ là cuộc đời tại gia, một con đường lắm bụi, còn đời xuất gia thì phóng khoáng nhẹ tựa hư  không.  Thật chẳng dễ dàng gì, để một người ở với gia đình có thể sống theo cuộc đời cao đẹp trọn vẹn đầy đủ,  hoàn toàn thanh  tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Hay bây giờ ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?" Một thời gian sau, người ấy từ bỏ tài sản của mình dù nhỏ hay lớn, từ bỏ họ hàng quyến thuộc dù gần hay xa, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

 

ĐẠO ĐỨC (Chi phần thứ ba, bốn, năm)

Sau khi đã xuất gia như vậy, vị ấy hoàn thành đầy đủ những phẩm hạnh của người sa-môn. Vị ấy từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh. Bỏ gậy, bỏ kiếm, biết hổ thẹn, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc cho tất cả chúng sinh và muôn loài.—Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, sống chân thật, không có trộm cắp.—Vị ấy từ bỏ dâm dục, sống thanh tịnh, sống hạnh viễn ly, từ bỏ tập quán tình dục của người đời.—Vị ấy từ bỏ nói dối, tránh xa nói dối, chỉ nói những lời chân thật, trung thực, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời.—Vị ấy từ bỏ nói lời chia rẽ, tránh xa nói nói lời chia rẽ, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói để gây chia rẽ ở chỗ kia; nghe điều gì ở chỗ kia, không đến nói để gây chia rẽ ở chỗ này. Như vậy vị ấy làm hòa hợp những người mâu thuẫn, làm bền vững những người hòa hợp, vui vẻ trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp.—Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời hiền hòa, êm tai, dễ mến, chạm đến tấm lòng, tao nhã, thân thiện, đẹp lòng nhiều người, người ấy nói những lời như vậy.—Vị ấy từ bỏ nói lời phàm phiếm, tránh xa nói lời phàm phiếm, vị ấy nói đúng thời, nói đúng sự thực, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp và Đức hạnh, nói những lời đáng được gìn giữ, hợp thời thuận lý, có mạch lạc hệ thống, liên hệ đến mục đích.

Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ. Vị ấy chỉ dùng thức ăn một lần trong ngày, không ăn ban đêm, không ăn phi thời; từ bỏ đi xem múa, hát, nhạc, trình diễn; từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thơm và các thời trang; từ bỏ dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ nhận vàng và bạc, từ bỏ nhận các hạt thô và thịt sống, từ bỏ nhận đàn bà, con gái, từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai, từ bỏ nhận cừu và dê, gia cầm và heo, voi, bò, ngựa và ngựa cái, từ bỏ nhận ruộng nương và đất đai, từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới, từ bỏ buôn bán, từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc, đo lường, từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo, từ bỏ làm thương tổn, sát hại, giam cầm, áp bức, trộm cắp, cướp phá.

Vị ấy sống bằng lòng với tấm y để che chắn cơ thể, với bát ăn khất thực để nuôi sống bản thân, và giống như chim bay bầu trời chỉ mang theo đôi cánh, vị ấy dù đi bắt cứ nơi đâu, cũng chỉ mang theo hai vật dụng này. Vị ấy nhờ thành tựu giới đức hạnh cao quý này nên được hưởng an lạc, nội tâm không có lầm lỗi.

 

PHÒNG HỘ CÁC GIÁC QUAN (Chi phần thứ sáu)

Và giờ, khi nhận biết một hình ảnh với mắt, một âm thanh với tai, một mùi hương với mũi, một mùi vị với lưỡi, một xúc chạm với thân, một ý niệm với tâm, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, mà khi các giác quan không được kiềm chế, khiến cho các mong mỏi muộn phiền, các ác bất thiện pháp được khởi lên, vị ấy phòng tránh những nguyên nhân ấy, và kiềm chế, phòng hộ các giác quan của mình. Và nhờ sự phòng hộ cao quý của các giác quan ấy, vị ấy được hưởng an lạc, nội tâm không có lầm lỗi.

 

CHÁNH NIỆM VÀ TỈNH GIÁC (Chi phần thứ bảy)

Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn trước, khi nhìn sau đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y áo, khi mang bình bát đều tỉnh giác;  khi ăn uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiểu tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác.

Và với sự thành tựu của giới đức hạnh cao quý, với sự thành tựu của sự phòng hộ cao quý các giác quan, với sự thành  tựu của chánh niệm tỉnh giác cao quý. Vị ấy chọn cho mình một nơi thanh vắng, tĩnh lặng, như ở trong khu rừng, ở dưới gốc cây, ở trên ngọn núi, ở tại khe đá, ở trong hang động, ở bãi tha ma, ở nơi cao nguyên, ở giữa ngoài trời, hay ở gần đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong bữa ăn, vị ấy ngồi xuống tại đó, với chân khoanh, lưng thẳng, và an trú chánh niệm trước mặt.

 

GẠT BỎ NĂM CHƯỚNG NGẠI (Triền cái)

Vị ấy từ bỏ tham dục ở đời, sống với tâm tự do giải thoát khỏi tham dục, gột rửa tâm hết thảy những tham dục.

Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết thảy những sân hận.

Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết thảy những hôn trầm thụy miên.

Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không lo âu, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết thảy những lo âu, hối tiếc.

Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết thảy nghi ngờ đối với thiện pháp.

 

CÁC TẦNG THIỀN (Chi phần thứ tám)

Sau khi đã gạt bỏ năm chướng ngại (triền cái)—là những ô nhiễm trong tâm mà làm yếu ớt trí tuệ, và rồi thoát ly khỏi dục lạc, thoát ly khỏi các ác bất thiện pháp, vị ấy chứng đạt và an trú bốn tầng thiến.

 

TUỆ QUÁN (Minh sát) (Chi phần thứ nhất)

Và dù bất cứ thứ gì thuộc về cơ thể, cảm giác, ký ức, suy nghĩ, ý thức: tất cả những hiện tượng này vị ấy đều coi chúng như là nhất thời (vô thường), phải chịu khổ sở (khổ), coi chúng như là tật bệnh, là ung nhọt, là gai chướng, là bất hạnh, là gánh nặng, là kẻ thù, là phiền luỵ, thấy chúng là trống không và trống vắng một "cái tôi" (vô ngã); và rời khỏi những điều này, vị ấy hướng tâm mình đến sự bất diệt: "Thực sự, đây là yên bình, đây là tối thượng, đó là sự ngưng lặng của tất cả các tạo tác, sự trừ bỏ của mọi mống tái sinh, sự đoạn diệt của ham muốn, sự buông xả, lặng tắt, Niết Bàn". Và ở đây, vị ấy chứng đạt "sự diệt tận của uế nhiễm".

 

NIẾT BÀN

Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi uế nhiễm dục lạc, thoát khỏi uế nhiễm tái sinh, thoát khỏi uế nhiễm u mê. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Và vị ấy hiểu: "Sinh đã tận, lý tưởng cao đẹp đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn phải quay trở lại cuộc đời này nữa".

Giải thoát này sẽ là vĩnh viễn, Ta đã sống đời sống cuối cùng, Không còn nữa là sự tái sinh.

Đây, thực sự, là trí tuệ cao thượng nhất, là trí tuệ linh thiêng nhất: đó là trí tuệ về sự đoạn diệt của khổ đau.

Đây, thực sự, là bình yên cao thượng nhất, là bình yên linh thiêng nhất: đó là sự yên bình khỏi tham sân si.

 

BẬC THÁNH TRẦM LẶNG

"Ta là", đó là một vọng tưởng; "Đây là ta", đó là một vọng tưởng; "Ta sẽ là", đó là một vọng tưởng; "Ta sẽ không phải là", đó là một vọng tưởng. Những vọng tưởng đó là  tật bệnh, là ung nhọt, là gai chướng. Nhưng một người sau khi vượt qua được khỏi tất cả các vọng tưởng, người ấy được gọi là "Bậc Thánh Trầm Lặng". Và này các Đệ tử, với Bậc Thánh Trầm Lặng, vị ấy không còn sinh ra, không còn chết đi, không còn dao động, không còn mong cầu. Ở vị  ấy không còn gì có thể sinh ra được nữa, và nếu không sinh, làm sao có thể già được? Nếu không già, làm sao có thể chết được? Nếu không chết, làm sao có thể dao động được? Và nếu không dao động, làm sao còn có thể có mong cầu?

 

ĐÍCH ĐẾN THỰC SỰ

Vậy nên, mục đích để sống cuộc đời cao đẹp không phải là vì lợi lộc, vì tiếng tăm, vì danh vọng, hay không phải vì để thành tựu đức hạnh, thành tựu thiền định, thành tựu hiểu biết. Mà bởi sự giải thoát không thể lay chuyển này của tâm: Đó, mới thực sự là cốt lõi, là mục tiêu cuối cùng của cuộc đời cao đẹp.

Và những người, trong quá khứ đã là những bậc hiền thánh, những bậc giác ngộ. Những bậc phước lành ấy cũng đã chỉ dạy cho những đệ tử của họ hướng đến cùng một mục tiêu cho chính bản thân, giống như điều ta đã chỉ dạy cho những người đệ tử của mình.

Và những người, trong tương lai sẽ là những bậc hiền thánh, những bậc giác ngộ. Những bậc phước lành ấy cũng sẽ chỉ dạy cho những đệ tử của họ hướng đến cùng một mục tiêu cho chính bản thân, giống như điều ta đã chỉ dạy cho những người đệ tử của mình.

Này các Tỳ-kheo, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng (sau khi ta viên tịch): "Lời dạy của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không còn bậc Ðạo sư nữa". Này các Tỳ- kheo, các người chớ có những tư tưởng như vậy. Giáo Pháp và Giới Luật này, Ta đã thuyết giảng và chỉ dạy, sau khi Ta viên tịch, chính Giáo Pháp và Giới Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các người.

Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình! Tự mình nương tựa chính mình,

Chớ nương tựa vào điều gì khác, Hãy để Chánh pháp làm ngọn đèn!

Hãy để Chánh pháp làm chỗ nương tựa, Chớ nương tựa vào điều gì khác.

Vậy nên, này các Tỳ-kheo, nay những pháp do ta đã tự mình chứng ngộ và chỉ dạy các người, các người phải khéo học hỏi, khéo thực hành, khéo trau dồi tu tập, để cho đạo hạnh cao đẹp này được trường tồn, được vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì sự tốt đẹp cho chúng sinh, vì lòng thương cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì sự tốt đẹp cho chư thiên và loài người.

Nguồn:  Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)