Tránh xa hai cực đoan này, Như Lai đã giác ngộ con đường Trung đạo, cho ra tầm nhìn, cho ra hiểu biết, đưa đến yên bình, đưa đến sáng tỏ, đưa đến tỉnh thức, đưa đến Niết Bàn.
Đó chính là Bát Chánh Đạo, con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ, cụ thể là:
1. Chánh Tri Kiến (Hiểu biết đúng)
2. Chánh Tư Duy (Suy nghĩ đúng)
>> Tạo thành: Trí Tuệ (Tuệ)
1. Chánh Ngữ (Lời nói đúng)
2. Chánh Nghiệp (Hành động đúng)
3. Chánh Mạng (Mưu sinh đúng)
>> Tạo thành: Đạo Đức (Giới)
1. Chánh Tinh Tấn (Nỗ lực đúng)
2. Chánh Niệm (Chú tâm đúng)
3. Chánh Định (Định tâm đúng)
>> Tạo thành: Thiền Định (Định)
Đó là con đường Trung đạo mà Như Lai đã giác ngộ, cho ra tầm nhìn, cho ra hiểu biết, đưa đến yên bình, đưa đến sáng tỏ, đưa đến tỉnh thức, đưa đến Niết Bàn
Sự so sánh tượng trưng về một "đạo" hay "con đường" đôi lúc đã bị hiểu nhầm là để ám chỉ cho việc mỗi chi phần của Bát Chánh Đạo phải được thực hành cái này nối tiếp cái kia, theo đúng thứ tự cho sẵn. Nếu như vậy, Chánh Tri Kiến, hay là sự thấu hiểu tường tận chân lý, phải được nắm rõ đầu tiên, trước khi một người có thể nghĩ đến việc tu tập Chánh Tư Duy hay Chánh Ngữ, v.v... Nhưng trên thực tế ba chi phần (3-5) hình thành nên đề mục Đạo đức (Giới) phải được hoàn thiện trước, sau đó một người phải dành sức lực cho việc tu tập tâm bởi sự thực hành ba chi phần (6-8) dưới đề mục Thiền Định (Định); và chỉ sau các sự chuẩn bị đầy đủ đó, tính cách và tâm lý của người ấy mới đủ vững mạnh để có khả năng đạt tới giác ngộ bởi hai chi phần đầu tiên (1-2) dưới đề mục của Trí Tuệ (Tuệ).
Tuy nhiên, ngay ở lúc đầu, một người cần phải có một lượng tối thiểu của Chánh Tri Kiến, bởi sự nắm vững những thực tế cơ bản về khổ đau, v.v… là thiết yếu để cung cấp những lý lẽ thuyết phục, và là khích lệ để tinh tấn thực hành con đường. Một phần nhỏ của Chánh Tri Kiến cũng là điều kiện để các chi phần khác được hoàn thiện các chức năng riêng biệt của chúng một cách nhạy bén và hiệu quả, trong sứ mệnh chung của sự giải thoát. Vì lý do đó, để nhấn mạnh tầm quan trọng của chi phần về Chánh Tri Kiến, nó đã được đặt lên đầu tiên trong tám nhánh của Bát chánh Đạo.
Tuy nhiên, những hiểu biết bước đầu này về Giáo Pháp phải được dần dần phát triển, với sự hỗ trợ của các chi phần khác, cho đến cuối cùng nó đạt tới sự "Thanh tịnh của Tri Kiến" (Sáng Tỏ, Minh Sát), mà chính là điều kiện trực tiếp để chứng đạt bốn Thánh Quả và cho sự giác ngộ Niết Bàn.
Chánh Tri Kiến vậy nên vừa là khởi đầu cũng vừa là đích đến của Bát Chánh Đạo.
Thoát khỏi đớn đau và tổn hại là con đường này, thoát khỏi phiền muộn và khổ não là con đường này: Nó là con đường hoàn hảo.
Thực sự, không có con đường nào như con đường này để đưa đến sự thanh tịnh về hiểu biết. Nếu đi theo con đường này, người sẽ đặt dấu chấm hết cho mọi khổ đau.
Nhưng mỗi người đều phải tự nỗ lực tu tập cho chính mình, bậc Giác Ngộ chỉ là người chỉ đường.
Hãy lắng tai! Tiếng trống Bất tử đã được gióng lên, con đường Bất tử đã được tìm thấy, Ta chỉ dạy, Ta giảng các người Chánh Pháp. Hãy sống đúng theo lời dạy, không bao lâu nữa, ngay tại đời này, các người sẽ tự mình giác ngộ và tự mình chứng đạt mục tiêu cao nhất của lý tưởng cao đẹp mà bởi đó những người con trong gia đình đã chân chánh ra đi, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Bát chánh đạo (Aṭṭhaṅgika-magga) là gì ?
Chúng ta quen gọi là Bát Chánh Đạo, nhưng thật ra, cụm từ Pāḷi Aṭṭhaṅgika-magga có nghĩa là Bát Chi Đạo hay Bát Thánh Chi Đạo (ariyaṭṭhaṅgikamagga); tất cả chúng đều chỉ Sự Thật Về Con Đường Đi Đến Nơi Diệt Khổ (Dukkha Nirodhamaggasacca), tức là Đạo Đế.
Bát Chi Đạo còn được gọi trung đạo (majjhima magga), vì lìa xa hai cực đoan khổ hạnh và lợi dưỡng. Nó cũng là con đường thanh tịnh độc nhất (ekāyano maggo visuddhiyā), không có con đường thứ hai.
Bát Chi Đạo có 8 chi phần:
- Chánh kiến (Sammādiṭṭhi)
- Chánh tư duy (Sammāsankappa)
- Chánh ngữ (Sammāvāca)
- Chánh nghiệp (Sammākammanta)
- Chánh mạng (Sammā-ājīva)
- Chánh tinh tấn (Sammāvāyāma)
- Chánh niệm (Sammāsati)
- Chánh định (sammāsamādhi).
Với nghĩa “sammā” là chánh, là chơn, là đúng đắn; thế có nghĩa là lúc tu tập, chúng ta phải lựa chọn, phân định rạch ròi để tránh rơi vào các xấu, cái ác, cái tà vạy, cái sái quấy? Một bên chánh, một bên tà? Do vậy, ta còn biết rằng, có 8 con đường xấu ác, sai quấy đối nghịch gọi là bát tà đạo: Tà kiến (micchādiṭṭhi), tà tư duy (micchāsaṅkappa), tà ngữ (micchāvāca), tà nghiệp (micchākammanta), tà mạng (micchā-ājīva), tà tinh tấn (micchāvāyāma), tà niệm (micchāsati) và tà định (micchāsamādhi). Như vậy, mặc nhiên, từ “micchā” có nghĩa là xấu, là quấy, là tà
và cái nghĩa ấy đã trở thành “mặc định” trong giáo pháp, xưa cũng như nay! Và từ “sammā” ở trên cũng rơi vào nghĩa mặc định ấy, là đúng, là chánh, là chơn?\
“Buổi chiều hôm kia, ngồi uống trà trước hiên am, nhìn sang bên kia đồi, tôi thấy một đám mù sương len lỏi, uốn lượn nhẹ nhàng giữa mấy lùm cây xanh rồi từ từ chúng tản mác lên rừng cao... Tôi đang thanh thản thả tâm theo đám sương mù ấy thì chợt tiếng kêu ‘tắc kè, tắc kè’ sau vách tường làm tôi ‘tỉnh’ lại. Ồ! Cái chú tắc kè to lớn các sư mang về từ Ban Mê Thuột đấy mà!”
Cảnh vật tôi vừa thấy, nghe ấy là cái đang diễn ra, chúng là “cái thực” đang duyên khởi qua mắt, qua tai mà ai cũng đã từng kinh qua, chiêm nghiệm. Lúc ấy, cái thấy, cái nghe ấy là chánh, là chơn, hay không chánh, không chơn? Thật ra, khi thấy, nghe cảnh vật thì tôi đang ở trong trạng thái thư xả, nói cách khác, lúc ấy, theo Abhidhamma là không có tâm tham, sân, si (thiện) hoặc vô tham, vô sân, vô si (bất thiện). Lại nữa, đối tượng cũng là đối tượng tự nhiên, bình thường được gọi là đối tượng “rất nhỏ” không thể tác động, chi phối tâm ta để phát sanh tham sân, thương, ghét. Vậy thì cái thấy nghe vừa rồi có chế biến nhưng cũng rất gần với cái thực, cái như thực. Nó đã đi qua ý thức, nhận thức nhưng còn trong sáng; vẫn được gọi là “sammā”.
Thật ra, “sammā” còn nhiều nghĩa khác nữa mà tiếng Hán, tiếng Việt không nói ra hết được. “Sammā” không những có nghĩa chánh, chơn, mà còn có nghĩa đúng đắn, một cách đúng đắn, thích hợp, một cách hoàn toàn, toàn diện. Hoàn toàn, toàn diện có nghĩa là nó như thế nào thì chụp bắt trọn vẹn nó như thế, không đưa xen cảm tính và tư duy chủ quan của mình vào.
Còn “micchā”? Micchā thì không những nó có nghĩa là xấu, ác, tà vạy, sái quấy mà còn có nghĩa là phân rẽ, là rời ra, phân ly, chia cắt, là chia manh xẻ mún; là đối nhau, ngược nhau, trái nghịch với “sammā” nữa vậy.
Bát Chi Đạo không những được gọi là Bát Chánh Đạo, mà còn gọi là Bát Thánh Đạo. Hóa ra, về phương diện tục đế, lúc đang tu tập thì gọi là Bát Chánh Đạo; đã tu tập vững chắc rồi, bắt đầu đi vào đạo lộ siêu thế thì gọi là Bát Thánh Đạo.
Và như vậy, khi gọi Bát Chánh Đạo là ở phương diện hữu vi, còn sanh y (sanh khởi và nương tựa), thuộc tại thế; khi gọi Bát Thánh Đạo là ở phương diện vô vi, không sanh y, thuộc xuất thế.
Nguồn: Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)