1. Mẫu bản luận cứ

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

————

TP. Hồ Chí Minh, ngày... tháng ... năm 20...

BẢN LUẬN CỨ

Kính thưa Quí Tòa,

Tôi là Luật sư X...., thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh, được sự yêu cầu của thân chủ tôi là nguyên đơn S và cũng đã được Quí Tòa chấp thuận cho phép tôi được bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm “vụ án hành chính” hôm nay.

Tôi xin phép Quí Tòa được trình bày tóm gọn nội dung vụ việc, các yêu cầu của thân chủ tôi và luận cứ bảo vệ như sau:

Nguyên vào ngày 24/01/2006 trong khi thân chủ tôi đi vắng vì công việc làm ăn hàng ngày, thì Tổ Quản lý trật tự xã B đã đến đập phá căn nhà gây hư hỏng, đổ nát gần như toàn bộ căn nhà có diện tích 4m x 8m = 32m2 (chỉ còn lại 1/3 căn nhà) với lý do cưỡng chế vi phạm hành chính về xây dựng, mà không có biên bản xử lý vi phạm hành chính tại chỗ và cũng không có quyết định cưỡng chế. Thêm vào đó, Tổ quản lý trật tự này còn hăm dọa hành hung cả em V, là con ruột của thân chủ tôi.

Đến trên 6 tháng sau, để chữa cháy việc xử lý vi phạm hành chính xây dựng không đúng pháp luật về qui trình xử lý, cưỡng chế của cấp dưới, UBND xã B đã liên tiếp ban hành các Quyết Định 942/QĐ-UBND về thu hồi và hủy biên bản vi phạm hành chính số 107 ngày 14/09/2005 của Tổ Quản lý Trật tự Đô thị vì nhầm đối tượng vi phạm và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 631/QĐ-XPHC ngày 20/09/2005; Quyết định số 944/QĐ-XP-UBND về “xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng….” cũng trong ngày 30/6/2006 và Quyết định số 1099/QĐCC-UBND về “quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính”. Rõ ràng đây là một qui trình xử phạt ngược chiều, không đúng trình tự qui định của luật pháp trong xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng, chưa kể sự sai sót cẩu thả trong việc lập Biên bản xử phạt và quyết định xử phạt lộn đối tượng đối với Ông L, là chồng cũ của nguyên đơn, đã ly hôn từ tháng 4/1999 (cách thời điểm xử lý đến 7 năm) không còn liên quan gì đến tài sản riêng của nguyên đơn.

Chính vì vậy, mà thân chủ tôi, bà S, đã phải làm đơn khiếu nại đến UBND xã B (theo đúng trình tự qui định của Luật Khiếu nại, Tố cáo) và đã bị UBND xã B bác đơn khiếu nại với Quyết định số 1236/QĐ-UBND ngày 22/8/2006 do chủ tịch UBND xã ký. Do đó, theo đúng trình tự luật pháp, thân chủ tôi đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân Huyện B với 4 nội dung yêu cầu để được Tòa xét xử như sau:

1. Đập nhà sửa chữa không có giấy phép, không có biên bản xử phạt hành chính.

2. Không có Quyết định cưỡng chế của UBND xã B.

3. Cắt rào vào nhà khi chủ nhà đi vắng.

4. Rút súng hăm dọa đòi bắn con chủ nhà bể đầu (có sự làm chứng của nhân dân địa phương và công an xã B).

Qua đó thân chủ tôi yêu cầu được xét xử và bồi thường thiệt hại hư hỏng nhà cửa trị giá thiệt hại 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và truy cứu trách nhiệm người có hành vi dùng súng hăm dọa bắn vào đầu của con thân chủ tôi.

Nhưng Bản án sơ thẩm lại đưa ra phán quyết lệch hướng với quyết định: “Bác yêu cầu của Bà S yêu cầu hủy Quyết định 1236/QĐ-UBND ngày 22/8/2006 của UBND xã B và yêu cầu đòi UBND xã B bồi thường 20 triệu đồng tiền vật tư và 5 triệu đồng tiền thiệt hại tinh thần”. Và kết luận “Quyết định số 1236/QĐ-UBND ngày 22/8/2006 của UBND xã B có hiệu lực thi hành.” Theo chúng tôi, Bản án sơ thẩm đã không đi thẳng vào việc giải quyết các nội dung một cách đầy đủ mà nguyên đơn đã khởi kiện, mà chỉ giải quyết cái ngọn của vấn đề khiếu kiện.

Vấn đề ở đây là phải xét xử xem việc cưỡng chế đập phá căn nhà xây dựng trái phép của nguyên đơn có sai sót, không đúng qui trình xử lý vi phạm hành chính về xây dựng hay không? Các quyết định xử phạt vi phạm hành chính và quyết định cưỡng chế vi phạm ban hành sau cưỡng chế đập phá thực tế căn nhà có đúng luật pháp qui định không? Việc hăm dọa hành hung con ruột của nguyên đơn bằng súng có đúng sự thật hay ở mức độ nào? Việc yêu cầu hủy Quyết định 1236/QĐ-UBND của UBND xã B ngày 22/08/2006 chỉ là hậu quả tất yếu của việc giải quyết các nội dung tranh chấp nói trên, đó là yêu cầu phụ, chứ không phải là các yêu cầu chính ,có tính trọng tâm, chủ yếu của Đơn Khởi Kiện của nguyên đơn, bà S.

Tất cả chúng ta ở đây và mọi công dân có ý thức, vì lợi ích chung đềuhoan nghênhtất cả các xử phạt đúng luật pháp của mọi cơ quan thẩm quyền nhà nước đối với người vi phạm luật pháp để đảm bảo kỷ cương, phép nước được nghiêm minh, trong đó có cả của UBND xã B. Nhưng rõ ràng, qua hồ sơ với nhiều bút lục chứng minh và có cả sự xác nhận của đại diện ủy quyền của UBND xã B trong Bản tự khai tại hồ sơ vụ án, cũng như tại Tòa phúc thẩm hôm nay, cho thấy đãcó những yếu tố lỗi thuộc về UBND xã B và cấp thừa hành của mình là Tổ Quản lý Trật tự đô thị do tâm lý bực tức, định kiến đối với người vi phạm trong xây dựng nên đã vội vã trong xử lý không theo đúng trình tự quy định của luật pháp và xử phạt vi phạm hành chính, đi nghịch chiều qui trình, thậm chí lúc đầu còn xử lý, cưỡng chế sai đối tượng vi phạm không xác minh kỷ càng và tiếp đến, còn ban hành những quyết định “chữa cháy” sai sót của mình không đúng luật.Việc cưỡng chế vi phạm này cũng không công bằng, vì ngay tại ấp 1 và ấp 4 xã B vẫn còn rất nhiều trường hợp xây dựng trái phép chưa được xử lý cưỡng chế mà Báo CA Tp.HCM số 1416 ngày 9/2/2006 và số 1417 ngày 14/2/2006 đã phản ảnh. Thậm chí Tổ Quản lý trật tự đô thị xã B còn chưa chấp hành nghiêm túc chỉ thị của lãnh đạo UBND huyện B, dẫn đến cưỡng chế đập phá nhà đã xây dựng trái phép hoàn chỉnh xong xuôi, vi phạm qui trình xử phạt hành chính. Vì chỉ thị của UBND HuyệnB số 02/2003/CT-UB ngày 22/5/2003 (theo Bút lục Số 43 tại Hồ sơ vụ án) đã chỉ đạo rõ ở điểm 1.1 là: giao chủ tịch UBND xã-thị trấn chịu trách nhiệm về các nội dung sau:

“- Củng cố Tổ quản lý đô thị đủ mạnh theo hướng chủ tịch xã-thị trấn kiêm tổ trưởng, tổ phó và các thành viên là chuyên trách. Tổ chức lực lượng kiểm tra thường xuyên 24/24giờ (kể cả ngày thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ), kịp thời xử lý cương quyết, không để xảy ra các hành vi chuyển mục đích sử dụng đất, lấy đất hạ thấp mặt ruộng, san lấp, xây dựng bất hợp pháp trên địa bàn xã-thị trấn mình quản lý dưới mọi hình thức.

- Tiến hành lập thủ tục tạm giữ vật tư, phương tiện thi công (kể cả xe chuyên chở vật tư san lấp) và xử lý theo thẩm quyền. Buộc phải khôi phục trả lại ngay hiện trạng ban đầu; tháo dỡ ngay công trình xây dựng bất hợp pháp khi mới xây dựng.”

Rõ ràng nội dung chỉ thị của UBND Huyện là phải tuần tra kiểm soát 24/24 giờ và phải lập biên bản xử lý ngay từ đầu các vi phạm về xây dựng, để ngăn chặn, khôi phục lại ngay hiện trường, phải có bằng chứng quả tang đang xây dựng trái phép hẳn hoi một cách tức thời, ngay tại chỗ, đang khởi công xây dựng trái phép và có các tang vật phương tiện thi công, vật tư cụ thể. Nhưng theo các bút lục tại hồ sơ vụ án và theo xác nhận của đại diện ủy quyền của UBND xã B, thì Tổ quản lý trật tự đô thị xã B đã cưỡng chế đập phá căn nhà đã xây dựng xong, chủ nhà là S vắng mặt và không hề có tang vật là các phương tiện thi công, vật tư, vật liệu nào tại chỗ cả. Điều đó chứng minh việc xử lýcưỡng chế này là vội vã, không những không đúng qui định luật pháp, mà còn không đúng tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo UBND Huyện nữa.

Nhưng để sang một bên các yếu tố lỗi, những sai sót không đúng qui định luật pháp của Tổ Quản lý Trật tự Đô thị xã B làm thiệt hại cho nguyên đơn là Bà S. Ở đây, đặc biệt chỉ đề cập đến Bản án Sơ thẩm, theo chúng tôi phân tích ở trên, là chưa thể hiện việc xét xử đúng và đầy đủ theo tinh thần và nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Bà S).Theo tôi, Bản án sơ thẩm, về nguyên tắc, đã vi phạm tố tụng. Vì vậy, tôi trân trọng kính đề nghị Hội Đồng Xét Xử phúc thẩm tuyên hủy Bản án Sơ thẩm, để tạo điều kiện xét xử sơ thẩm lại ngay từ đầu cho đúng thủ tục tố tụng qui định.

Trân trọng kính cảm ơn Quí Tòa.

Người bảo vệ.

LS…..

....................................................................

 

2. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với Luật sư

- Nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi sau đây:

a) Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc);

b) Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;

c) Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

d) Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;

đ) Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

e) Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

g) Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

h) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;

i) Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;

k) Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.

- Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư.

 

3. Tiêu chuẩn luật sư

Luật sư cần có những tiêu chuẩn sau:

- Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc

- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;

- Có phẩm chất đạo đức tốt;

- Có bằng cử nhân luật;

- Đã được đào tạo nghề luật sư;

- Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư;

- Có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.

 

4. Điều kiện để hành nghề luật sư

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.

 

5. Đào tạo nghề luật sư và trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư

a. Đào tạo nghề luật sư

- Người có Bằng cử nhân luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư.

- Thời gian đào tạo nghề luật sư là mười hai tháng.

Người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư.

- Chính phủ quy định về cơ sở đào tạo nghề luật sư.

- Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chương trình khung đào tạo nghề luật sư, việc công nhận đào tạo nghề luật sư ở nước ngoài.

b. Người được miễn đào tạo nghề luật sư

- Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên.

- Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sỹ luật.

- Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.

- Đã là thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát; chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật.

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật trực tuyến, gọi:1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email:  [email protected]

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT