1. Mẫu bản luận cứ bảo vệ vụ việc đòi nợ
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————
Tp. HCM, ngày ... tháng ... năm 20...
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Quí Tòa,
Tôi là LS ..., thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM, Giám đốc công ty luật VAC, theo yêu cầu của bị đơn dân sự L và được sự đồng ý của Quí Tòa qua giấy: “Chấp nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp” số 07/CV-TA ngày 11/7/2007, hôm nay, trước phiên Tòa sơ thẩm này, tôi xin được thực hiện việc bảo vệ quyền lợi của thân chủ tôi (Bà L) với các quan điểm và luận cứ sau:
Thứ nhất: Việc cho vay nợ và trả nợ giữa nguyên đơn (ông H) và bị đơn (bà L) dựa trên cơ sở sự quen biết thân tình đặc biệt như người thân trong nhà, nên giấy nhận nợ chỉ viết tay (mà do chính nguyên đơn, tức chủ nợ viết, bị đơn chỉ cứ việc ký xác nhận) hay có trường hợp chỉ trao đổi miệng (như trường hợp bị đơn L nói có trả nợ gốc cho nguyên đơn 2 lần: một lần 150.000.000 đồng vào ngày 18/6/2004 và một lần 50.000.000 đồng vào ngày 20/11/2006, cộng dồn là 200 triệu đồng, nhưng nguyên đơn không nhớ).
Thứ hai: Việc cho mượn nợ, thu nợ, lãi, đối chiếu nợ hoàn toàn do nguyên đơn đạo diễn, tính toán, trong khi bị đơn có vẻ thụ động, không có bất cứ đề nghị nào về mặt thủ tục pháp lý (như viết hợp đồng có công chứng hoặc ít ra hợp đồng tay vay nợ có nhân chứng v.v…) xuất phát từ lý do là nguyên đơn ít học và dốt luật.
Thứ ba: Vì khoản cách biệt trong việc xác nhận nợ giữa 2 bên là rất lớn (Bên nguyên đơn cho rằng số nợ còn lại lên đến 1.176.134.000 đồng chưa tính lãi, trong khi bên bị đơn xác nhận số nợ chỉ còn vỏn vẹn khoảng 400 triệu đồng kể cả lãi tính đến thời điểm ngày 28/6/2004, tức là ngày mà bị đơn trả nợ cho nguyên đơn bằng việc bán căn nhà trị giá 750 triệu đồng, nghĩa là tiền lãi chỉ thiếu từ ngày này về sau (còn tất cả tiền lãi trước ngày 28/6/2004 thì đã được thanh toán). Cho nên việc hòa giải giữa hai bên là không khả thi và thực tế tại Tòa án qua mấy lần cũng không hòa giải được.
Từ tình hình thực tế, qua 3 nhận định trên, với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn L, tôi kính đề xuất Hội Đồng xét xử sơ thẩm mấy điểm sau:
I. Chấp nhận cơ sở thực tế và tính pháp lý của bản photo, tổng hợp đối chiếu nợ do bị đơn đã ký xác nhận với nguyên đơn , vì tất cả mặt chữ và số liệu nợ và lãi đều do nguyên đơn chấp bút và đây là cơ sở khách quan nhất so với các chứng từ được xuất trình (mặc dù nguyên đơn cho rằng đó là bản nháp và đã làm mất hoặc đốt rồi, nhưng bị đơn đã lục tìm được bản photo). Và từ bản sao tổng hợp đối chiếu nợ giữa 2 bên này đã làm rõ thêm 2 vấn đề là:
1) Bị đơn đã 4 lần trả nợ gốc (lần I: 50 triệu, lần II: 20 triệu, lần III: 100 triệu (số V trong bản đối chiếu nợ) và lần IV: cấn trừ căn nhà bán cho phía người thân của nguyên đơn là 750 triệu) tổng cộng là: 920 triệu (chín trăm hai chục triệu). Vì vậy, trong tính toán nợ tồn đọng của bị đơn, đề nghị Quí Tòa trừ khoản này ra.
2) Có bằng chứng là nguyên đơn đã đôn lãi vào vốn tất cả là: 103.660.000 đồng (một trăm lẻ ba triệu sáu trăm sáu chục ngàn đồng), là không phù hợp với luật pháp, vì như vậy là có tình trạng tính lãi chồng lên lãi. Phần này cũng đề nghị Quí Tòa trừ bớt vào nợ tồn tại (đó là chưa kể số lãi thặng dư không hợp lý phát sinh từ các khoản lãi cộng dồn này mà bên bị đơn đã phải chịu thanh toán).
II. Công nhận tổng số tiền lãi (với lãi suất thỏa thuận cao chưa phù hợp với qui định luật pháp) cho đến trước thời điểm 28/6/2004 (tức là thời điểm bị đơn xác nhận kể từ đó về sau chưa trả lãi tiếp tục, theo biên bản kết thúc ghi nhận trong hồ sơ tại Tòa) với tổng số là : 273.800.000 đồng (hai trăm bảy mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng) mà bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn và được trả làm 13 đợt từ đợt đầu vào tháng 8/2003 đến đợt cuối vào tháng 4/2004 theo bút tích của nguyên đơn trên bản đối chiếu. Nếu áp dụng chế tài theo qui định của Bộ Luật Dân sự, kể cả Bộ Luật Dân sự năm 1995 có hiệu lực từ ngày 01/7/1996 và Bộ luật Dân sự 2005 hiện nay, thì phần đã trả lãi vay cao vượt qui định, theo tôi, cũng nên trừ bớt vào phần vốn còn nợ của bị đơn.
III. Không công nhận số tiền nợ 300 triệu (ba trăm triệu đồng chẳn) mà nguyên đơn giao cho bị đơn ngày 16/6/2004, vì đây là tiền hùn vốn kinh doanh bất động sản theo nguyên tắc “lời ăn lỗ chịu” mà thực tế là bị đơn đã bị lỗ nặng, nên nguyên đơn cũng phải cùng chịu hậu quả thua lỗ qua việc góp vốn làm ăn này.
IV. Xác nhận quan hệ dân sự bị vô hiệu từ giấy nhận nợ ngày 24/01/2005 với số nợ 1.874.000.000 đ (một tỉ tám trăm bảy mươi bốn triệu đồng) do có sự nhầm lẫn của bên bị đơn và do vi phạm các hình thức văn bản (dù viết tay) giữa 2 bên như: ghi “người làm chứng” nhưng không có ai làm chứng ký tên cả; ghi “người viết giấy nhận nợ ký tên” nhưng bị đơn không hề chấp bút, mà chính nguyên đơn là chủ nợ tự viết; ghi “giấy làm 2 bản mỗi người một bản giá trị như nhau” nhưng thực tế chỉ có nguyên đơn giữ mà bị đơn (tức con nợ) không giữ bản nào.
Việc tuyên bố quan hệ dân sự vô hiệu ở đây dựa trên cơ sở các điều khoản của Luật Dân sự như sau:
- Điều 139 Bộ Luật Dân sự nước CHXHCN VN ngày 09/11/1995 về “Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức” và Điều 141 Bộ Luật trên về “giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn” ở khoản 2 qui định: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn, thì bên có lỗi trong việc để xảy ra nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại”. Ở đây, bên có lỗi chính là nguyên đơn, vì chính nguyên đơn chấp bút và đưa ra các qui định hình thức gây nhầm lẫn cho bị đơn, vì bị đơn là người ít học, dốt luật pháp.
Vì chính Điều 400 Bộ Luật Dân sự năm 1995, có hiệu lực từ ngày 01/7/1996 này cũng qui định: “Khi các bên giao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định, thì hợp đồng được coi là đã giao kết khi đã tuân theo hình thức đó”, nhưng ở đây quan hệ dân sự được thực hiện sai hình thức đã thỏa thuận.
Và ngay cả khi vận dụng hồi tố Bộ Luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 ở Điều 131 về “giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn” và Điều 134 về “giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ qui định về hình thức” cũng có nội dung qui định về vô hiệu tương tự như trên về giao dịch dân sự.
Hơn nữa, giấy nhận nợ ngày 24/01/2005 về khoản nợ 1.874.000.000 đồng còn vi phạm yếu tố trung thực, vì theo nhân chứng tình cờ L (đã có bản khai tại hồ sơ vụ kiện), thì bị đơn L ký xác nhận trước rồi, nguyên đơn mới ghi nội dung phần sau, trong đó có việc ghi thêm số nợ 1.874.000.000 đồng.
Và rõ ràng một khi quan hệ dân sự bị vô hiệu, thì quan hệ đó mất giá trị và không tồn tại, hoàn toàn không thể điều chỉnh nghĩa vụ bên bị đơn (tức con nợ) vì bị đơn là người ngay tình, do nhầm lẫn. Và bị đơn cũng phủ nhận hoàn toàn là không hề có nhận khoảng nợ này.
Tóm lại , trên cơ sở các luận cứ viện dẫn trên, với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, chúng tôi kiến nghị Hội Đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phía bị đơn để tuyên xác nhận số nợ còn tồn đọng mà bị đơn có nghĩa vụ phải trả là 400.000.000 đ (bốn trăm triệu đồng chẳn) và số lãi phát sinh kể từ thời điểm ngày 28/6/2004 về sau như bị đơn đã thành thật khai báo trước Tòa hôm nay.
Và căn cứ theo Điều 476 khoản 1 (về lãi suất của hợp đồng vay tài sản) của Bộ Luật Dân sự năm 2005 (mục 4 chương XVIII) có ghi rõ: “ Lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Trong quá trình vay và trả nợ, lãi của bị đơn L có thể xác định thuộc loại hình vay vốn lưu động trung hạn, và căn cứ theo các tài liệu thông báo của Ngân hàng, thì trong các khoản thời gian đó lãi suất tín dụng ngân hàng biến động từ 0,8%/tháng cho đến cao nhất là 1,1%, tức là bị đơn chỉ phải thanh toán lãi tối đa 1,65%/tháng (tức 1,1% x 150%). Nhưng trong quá trình thanh toán lãi , bị đơn L đã chịu thiệt hại vì phải thanh toán lãi từ thấp nhất là 2%/tháng đến mức cao là 3%/tháng và thậm chí còn phải trả lãi chồng lên lãi (do nguyên đơn cộng nợ lãi vào vốn để tính lãi tiếp). Vì vậy, chúng tôi cũng kiến nghị Hội Đồng xét xử sơ thẩm cho áp dụng theo đúng lãi suất cho vay hiện nay của Ngân hàng (là 1,1% đến cao nhất là 1,2%/tháng) đối với khoản nợ 400 triệu đồng còn lại kể từ thời điểm 28/6/2004 đến ngày khởi kiện của nguyên đơn. Kính mong được Quí Tòa nghiên cứu chấp nhận các luận cứ và các kiến nghị cụ thể hợp tình , hợp lý và thỏa đáng nói trên, để cho thân chủ tôi không bị quá thiệt hại.
Trân trọng kính kiến nghị và kính cảm ơn Hội Đồng xét xử.
LS ...
.........................................
Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.
2. Mẫu bản luận cứ vụ đòi nợ có yếu tố nước ngoài
>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—oOo—
TP.Hồ Chí Minh, ngày... tháng ... năm 20...
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Quí Toà,
Tôi là luật sư …………….., thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, được sự yêu cầu của nguyên đơn dân sự là Bà E, Việt kiều Mỹ, tôi được thực hiện việc bào chữa bảo vệ quyền lợi của thân chủ tôi trong vụ “ Đòi nợ ” đối với bị đơn dân sự là Ông S.
Tôi xin được trình bày nội dung vụ việc như sau:
Nguyên vào đầu năm 1999, thân chủ tôi là Bà E, có về Việt Nam thăm gia đình cùng với ý định thăm dò tình hình kinh tế xã hội, sắp xếp nhà cửa với mục đích để xin hồi hương về hẳn Việt Nam để sinh sống và hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng do vào thời điểm nầy, Chính phủ Việt Nam chưa có chủ trương cho Việt Kiều mua nhà. Do đó, để chủ động cho tương lai về sau tại Việt Nam, thân chủ tôi đã có nhờ một người quen biết, tin cậy là Ông S đứng tên để hợp thức hoá việc mua căn nhà số — /– Hương Lộ –, Phường –, Quận T (nay là QuậnT) Thành phố Hồ Chí Minh của sở hữu chủ lúc bấy giờ là Ông H.
Để đảm bảo tình nghĩa và sự tin cậy, sòng phẳng khỏi mắc lòng về sau giữa các bên, vào ngày 04 tháng 01 năm 1999, thân chủ tôi đề nghị Ông S viết giấy tay mượn của thân chủ tôi 40 lượng vàng SJC và vào ngày 18 tháng 01 năm 1999, thân chủ tôi tiến hành đặt cọc mua căn nhà —/– Hương Lộ — nói trên cho Ông H, đồng thời thoả thuận miệng với Ông H để cho Ông S đứng tên trên Hợp đồng mua bán nhà với Ông H, để đảm bảo tính pháp lý. Và sau đó, ngày 02 tháng 02 năm 1999, theo đề nghị của thân chủ tôi, hai Ông H và S đã tiến hành các thủ tục pháp lý hợp đồng về mua nhà tại Phòng Công chứng 2, Thành phố Hồ Chí Minh và trước bạ ngày 08 tháng 02 năm 1999, đăng bộ tại Sở Địa Chính – Nhà Đất TP.Hồ Chí Minh, được ghi nhận ở Quyển số 04 tờ số 1521 ngày 11 tháng 02 năm 1999.
Do thấy Ông S còn ở hộ khẩu tập thể ở Đoàn Cải Lương S và do cũng kết hợp một công hai việc, nên thân chủ tôi đồng ý cho Ông S được mượn nhà để tá túc cho gia đình Ông, vừa giúp giữ, bảo quản nhà cho thân chủ tôi. Nhưng tất cả giấy tờ pháp lý về căn nhà và giấy mượn nợ của Ông S thì thân chủ tôi vẫn trực tiếp, để đề phòng các rủi ro về sau.
Cho đến năm 2003, do có chủ trương mới của Nhà nước Việt Nam cho phép Việt Kiều được mua nhà tại Việt Nam, đồng thời với việc ban hành Luật Đất Đai mới 2003 có quy định các loại đối tượng Việt Kiều được mua nhà (mà trường hợp thân chủ của tôi cũng được cho phép theo quy định ở Điều 121, khoản 1, điểm d về “người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam”), nên thân chủ tôi có trực tiếp đặt vấn đề nhiều lần với Ông S để được lấy lại căn nhà đã cho mượn. Nhưng Ông S đã từ chối trả nhà và tìm mọi cách tránh né với ý đồ, theo thân chủ tôi đánh giá, là muốn chiếm đoạt căn nhà —/– Hương Lộ — nầy, mà chủ sở hữu thật sự là thân chủ tôi, Bà E.
Kính thưa Quí Toà,
Để chứng minh trước Toà về quyền sở hữu của thân chủ tôi, Bà E, đối với căn nhà —/– Hương Lộ –, Phường –, Quận T (nay là Quận T), tôi xin phép được nêu ra các chứng cứ có cơ sở pháp lý sau:
1) Giấy mua bán nhà (viết tay) và việc đặt cọc trước 5 lượng vàng SJC giữa Bà E và Ông H, nguyên chủ sở hữu của căn nhà nầy ngày 18/01/1999.
2) Biên nhận mượn 40 lượng vàng SJC do chính Ông S viết tay ngày 04/01/1999.
3) Nhân chứng H (nguyên chủ sở hữu căn nhà —/– Hương lộ –) đã xác nhận tại các bút lục trong hồ sơ tại Toà hai nội dung :
· Một là: Bán căn hộ trực tiếp cho Bà E. Bà E trực tiếp ký giấy tay, đưa tiền, Ông H đã nhận đủ 40 lượng vàng SJC và giao giấy tờ cho Bà E.
· Hai là: Về giấy tờ pháp lý, thì “Bà E có nói để Ông S đứng tên trong Hợp đồng mua bán lập ngày 02/02/1999”.
Dựa trên các chứng cứ và nhân chứng có thật và hoàn toàn thuyết phục trên, tôi kính đề nghị Quí Toà xem xét “vụ kiện đòi nợ” của thân chủ tôi, Bà E, là hoàn toàn có cơ sở pháp lý vững chắc.
Và việc đưa hai yêu cầu để bị đơn dân sự, Ông S chọn lựa để giải quyết :một là giao trả lại căn nhà hoặc hai là hoàn trả 40 lượng vàng SJC cộng với lãi ngân hàng kể từ ngày mượn nhà để ở, là hoàn toàn thoả đáng, hợp lý hợp tình, nếu không nói là có phần thiệt thòi cho thân chủ chúng tôi ; vì Ông S và gia đình đã cư trú miễn phí tại căn nhà nầy đã 6 năm nay và trị giá căn nhà trong thực tế giá cả thị trường đã lên hơn gấp đôi.
Căn cứ các Điều 517, 519 và Điều 520 của Bộ Luật Dân sự Việt Nam về “mượn và cho mượn tài sản”.
Kính mong được Quí Toà xem xét, đưa ra phán quyết công minh đối với yêu cầu chính đáng và đầy tính đạo lý, nghĩa tình của thân chủ chúng tôi, Bà E.
Trân trọng kính cám ơn Quí Toà.
Người bào chữa,
3. Cách giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản?
Mỗi người nói một kiểu
Theo hồ sơ, tháng 12-2007, bà H. kiện ông T. ra TAND quận 11. Theo đơn kiện, tháng 2-2006, thấy ông T. kinh doanh khó khăn, bà cho ông mượn 50 lượng vàng để giúp đỡ. Mãi vẫn không thấy ông trả nên bà phải yêu cầu tòa buộc vợ chồng ông T. liên đới trả cho bà số vàng trên cùng lãi.
Ngược lại, ông T. nói hoàn toàn không có sự vay mượn nào cả. Trước đây, bà H. làm kế toán cho ông. Năm 2005, ông bị công an điều tra phong tỏa tài sản công ty và khống chế sự đi lại. Tin tưởng, ông đã ký khống nhiều giấy tờ cho bà H. thay mặt ông đi giao dịch bên ngoài. Lợi dụng những giấy ký khống này, bà H. đã làm giấy vay vàng giả.
Ông T. xác nhận chữ ký trong giấy nợ là của ông nhưng nội dung trong đó là giả mạo và yêu cầu giám định. Ông bảo tại thời điểm giấy nợ ghi (tháng 2-2006), ông không có mặt tại TP.HCM mà đang ở Hưng Yên. Đến năm 2007, bà H. còn kiện ông để đòi tiền lương nợ từ trước năm 2006 thì không lý nào bà lại cho ông mượn số vàng trên…
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162
Giấy nợ chắp nối bằng photocopy
Giải quyết, TAND quận 11 đã yêu cầu Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an giám định xem toàn bộ chữ in và chữ ký của ông T. trong giấy nợ có được thực hiện vào cùng một thời điểm hay không nhưng cơ quan này trả lời là không giám định được.
Tháng 8-2008, TAND quận 11 xử sơ thẩm, nhận định ông T. thừa nhận chữ ký trên giấy nợ là của ông nên buộc vợ chồng ông T. phải liên đới trả cho bà H. 57 lượng vàng cả gốc lẫn lãi. Vợ chồng ông T. kháng cáo, tiếp tục nói giấy nợ là giả mạo, đồng thời cho rằng vợ ông T. không hề biết chuyện vay mượn này nên không phải liên đới trả nợ.
Từ tháng 12-2008, TAND TP.HCM đã nhiều lần mở phiên tòa nhưng phải hoãn xử. Sau phiên phúc thẩm lần hai (tháng 2-2009), tòa quyết định trưng cầu giám định lại tại Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an. Theo cơ quan này, không xác định được chữ in, hình dấu và chữ ký của ông T. trên giấy nợ có được cùng thực hiện vào một thời điểm hay không nhưng toàn bộ chữ in trên giấy được tạo ra bằng phương pháp sao in photocopy (tức là giữa phần chữ in và phần chữ ký có sự không liền mạch).
Có chữ ký là phải trả
Tại phiên phúc thẩm mới đây, ông T. nói bà H. không đủ khả năng kinh tế để có số vàng trên cho mượn (hai vợ chồng bà chỉ có một chiếc xe máy đi làm chung). Đồng thời, bà H. không thể quá tốt bụng, vay mượn vàng khắp nơi cho ông mượn không lấy lãi để giúp đỡ. Theo ông, hai bên phải có quan hệ thế nào thì mới chân tình đến thế, trong khi ở đây chỉ đơn thuần là quan hệ giữa nhân viên với chủ.
Tòa lần lượt đặt ra các nghi vấn với bà H. là tại sao ngay cả dòng “nhận đủ số vàng” trong giấy nợ cũng đánh máy mà không để ông T. tự ghi, tại sao trong giấy nợ lại phải có con dấu công ty… Bà H. trả lời rằng giấy nợ do ông T. làm ra, bà không biết gì.
Tranh luận, bà H. chỉ nói giấy nợ là thật và bảo “không cần thiết phải dài dòng”. Ngược lại, ông T. tỏ ra bức xúc hơn. Theo ông, lời bà H. khai bất nhất về thời điểm, cách thức giao nhận vàng. Lúc bà nói giao toàn bộ số vàng một lần, lúc nói giao nhiều lần. Bà nói tháng 2-2006 cho ông vay 50 lượng không lấy lãi trong vòng một tháng, vậy mà năm tháng sau, chưa được trả nợ đồng nào, bà lại tiếp tục cho ông vay tiền và nhẫn hột xoàn (bà H. đã kiện ông T. trong một vụ khác). Ông T. còn nói mình không có mặt ở TP.HCM vào thời điểm hai bên giao nhận vàng như bà H. nêu.
Sau một tuần nghị án, tòa kết luận: Ông T. không chứng minh được giấy vay vàng đó là giả mạo, ai làm giả. Tuy ông có xuất trình một phiếu xuất kho chứng minh mình không có mặt tại TP.HCM tại thời điểm vay vàng nhưng chừng đó là chưa đủ căn cứ. Ông cũng không chứng minh được việc mình ký khống cho bà H., ngược lại bà H. có quyền không cần chứng minh vàng ở đâu có mà cho vay. Cuối cùng, tòa buộc ông T. phải trả nợ (vợ ông không phải liên đới).
Tòa vừa tuyên xong, ông T. đã lao đến định đánh bà H. nhưng bảo vệ kịp thời can ngăn, đưa bà H. sang một khu cách biệt ngồi. Bà H. lặng lẽ ngồi chờ mọi người đi hết mới ra về.
Năm tháng trước khi khởi kiện vụ trên, bà H. nộp lên cho TAND quận 11 một giấy nợ ghi ngày 30-7-2006 để kiện ông T. đòi 180 triệu đồng bao gồm 130 triệu đồng tiền mặt, một nhẫn hột xoàn trị giá 20 triệu đồng và 30 triệu đồng 10 tháng nợ lương… TAND quận 11 đã buộc vợ chồng ông T. trả cho bà H. các khoản trên. Sau đó, TAND TP sửa lại một phần, chỉ buộc ông T. phải trả hơn 136 triệu đồng vì bà H. không giải thích được các đặc điểm của nhẫn hột xoàn cho mượn như kích cỡ, màu sắc, đồng thời phía ông T. cũng xuất trình được hai giấy trả lương.
Cũng như vụ án trên, ở vụ này ông T. đã làm đơn xin xem xét kháng nghị giám đốc thẩm vì cho rằng giấy nợ do bà H. lợi dụng chữ ký khống của ông làm ra.
(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)
4. Dịch vụ đòi nợ là nghề khó nhưng thu nhập cao
Trong nền kinh tế thị trường nợ là bình thường đối với quốc gia, DN, cá nhân, hộ gia đình trong phạm vi cân đối được tài khoản phải thu, phải trả. Quan hệ nợ bình thường là sự liên kết, hợp tác của các bên vừa mang yếu tố kinh tế vừa chứa đựng thiện chí đồng thời thúc đẩy sự hình thành và thực hiện các ý tưởng kinh doanh. Nhiều chủ nợ, Cty dịch vụ đòi nợ đã tư vấn để khách nợ làm ăn có hiệu quả, trả nợ cũ vay mới. Có trăm ngàn cách vay, lý do phát sinh nợ quá hạn thì cũng có từng ấy cách… đòi nợ.
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162
Chưa rõ thị trường cạnh tranh DVĐN
Hiện chúng ta đã có nhiều hình thức… đòi nợ mà thiết nghĩ nên gọi là xử lý nợ để mở rộng phương pháp hành nghề.
- Đối với Nhà nước có Cty mua, bán nợ và tài sản tồn đọng của DN thành lập theo Quyết định 109/2003/QĐ-TTg, là DNNN với vốn Điều lệ 2.000 tỷ đồng được ngân sách cấp, Cty được kinh doanh các ngành nghề khác;
- Các DN làm dịch vụ đòi nợ theo Luật DN và được điều chỉnh bằng Nghị định 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007.
- Các Cty xử lý nợ của các ngân hàng thương mại.
Một ví dụ khá thành công của dịch vụ thu nợ là Cty TNHH dịch vụ thu hồi nợ và tư vấn Nhật An (TP HCM) thành lập năm 1997 đến 2007 đã nhận được 15.000 đầu mối “tằm tơ”, trung bình mỗi năm có đến 1.000 hồ sơ. Cty đã giải quyết được 80% số hồ sơ đòi nợ với giá dịch vụ từ 22-25% tổng số tiền thu được, thu đến đâu khấu luôn đó. Nếu bình quân mỗi hồ sơ nợ Cty thu được 10 triệu đồng thì 10 năm qua Cty thu thuần từ dịch vụ đòi nợ được 120 tỷ đồng, xứng đáng cho một nghề khó nhưng có thu nhập cao, không những vậy còn góp phần chống các dịch vụ xiết nợ kiểu “xã hội đen”.
Ba loại tổ chức chuyên nghiệp đã góp phần lành mạnh hoá quan hệ nợ trong nền kinh tế nhưng chưa được thị trường hoá bởi mỗi loại DN lại có “sân riêng”. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng các DN dịch vụ đòi nợ hoạt động theo Nghị định 104/2007/NĐ-CP gặp nhiều khó khăn hơn bởi họ không có chủ quản là cơ quan nhà nước, ngân hàng cấp trên, họ mỏng vốn nên khó tiếp cận các dịch vụ mua, bán nợ, không được kinh doanh khác để hỗ trợ dịch vụ đòi nợ. Hi vọng sự bất bình đẳng này có thể là tạm thời.
Kinh nghiệm xử lý nợ còn được thu nhận được từ bộ phận chuyên môn của các DN, ngân hàng khi mà khách hàng nợ xếp thành danh sách dài, phải cho nợ mới hoạt động bình thường: ngân hàng không có dư nợ thì không gọi là ngân hàng, DN không cho nợ thì không có khách hàng. Trong thị trường hiện nay khi năng lực sản xuất rất mạnh, nhiều chủng loại hàng hoá thì nhiệm vụ trọng tâm của DN ở bộ phận marketing bán hàng, thực hiện các nghiệp vụ cho nợ và thu hồi nợ.
Chúng ta có thể tìm thấy kinh nghiệm trong tổ chức chuyên nghiệp, trong hoạt động của thu nợ của dn để thấy được những cá nhân thực sự có tài đòi nợ. Nhiều luật sư đã làm giàu trong việc tư vấn xử lý nợ, tỷ lệ phần trăm được hưởng hơn thu nhập cả đời bảo vệ thân chủ trên các toà, họ đã “biến cái tưởng như mất thành cái được”. Nghị định 104 quy định chỉ cá nhân có giấy giới thiệu, có thẻ hành nghề của Cty mới được làm việc trực tiếp với chủ nợ và khách nợ là quy định hành chính ngăn chặn “hành vi xã hội đen”. Tuy nhiên, số người làm tư vấn, thuyết khách phục vụ chủ nợ, khách nợ vẫn tự do hoạt động, tiềm ẩn sự thành công và vi phạm pháp luật do cá nhân đó lạm dụng tín nhiệm của người chủ thuê mượn không văn bản. Đã đến lúc cần đúc kết thành những tài liệu chuyên môn cho những người tham gia Cty đòi nợ.
“Kim chỉ có đầu, tằm tơ có mối”
Tuy nhiên, hiện nay đang có một sự thật, khi phát sinh quan hệ vay nợ thường các bên tự thoả thuận theo pháp luật và quy định riêng. Trong khi dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện theo nguyên tắc truyền thống mà Nghị định 104 quy định:
Thứ nhất, có đủ căn cứ là khoản nợ hợp pháp. Do vậy, những quy định của chủ nợ như bắt ép khách nợ trả lãi suất vượt xa lãi suất trần của nền kinh tế hoặc khách nợ dùng những thủ đoạn lừa đảo như trả lãi cao, mua hàng giá cao vượt xa giá thị trường cùng những hứa hẹn không tưởng có thể là bất hợp pháp, bị loại trừ khỏi tổng giá trị nợ, là những hành vi bất lợi khi ra toà.
Thứ 2, nợ đã quá hạn thanh toán. đây là thời điểm hai bên quy ước lần đầu, lần cuối cùng với những thoả thuận bổ sung hoặc do quyết định của cơ quan có thẩm quyền như phán quyết của Trọng tài kinh tế, của Toà án. Không rõ đầu mối dẫn đến những tranh chấp mà đôi bên không dám đưa ra toà, là chỗ để DN đòi nợ có thể tăng giá dịch vụ. Quy định này khuyến cáo các quan hệ nợ cần rõ ràng, cụ thể, cần thiết phải có xác nhận của bên thứ ba hoặc những người làm chứng.
Khi vay, quyền của bên cho vay nhưng khi nợ khó đòi “chuyển quyền” vào bên nợ với nhiều lý do, chủ nợ thấy đòi được phần nào còn hơn mất cả. Đòi nợ khó khăn, phức tạp nhưng thu nhập rất chắc trên % giá trị đòi được. Giá thị trường dịch vụ nợ đã hình thành với tỷ lệ từ 20-60% tuỳ theo tổng giá trị món nợ và mức độ khó khăn khi hành nghề. Nhiều nhân viên thu nợ từng bị đe doạ bằng vũ lực, nhắn tin đe doạ hoặc không được tiếp xúc làm việc với bên nợ, thậm chí con nợ thuê người gây sự để nhân viên đòi nợ thiếu bản lĩnh, phạm Luật Hình sự (đánh nhau, quậy phá…).
Lấy tài sản hiện có để trả nợ chưa đủ bằng lấy tài sản tăng thêm để trả nợ – đó là tư tưởng phát triển trong xử lý nợ. Không sợ vay nợ mà chỉ sợ không biết sử dụng nợ để sinh lời – đó là bản lĩnh của doanh nhân.
Thiết nghĩ, để có đầu mối thông tin tài liệu, chủ nợ và khách nợ phải thiện chí cung cấp thông tin, đưa ra các “đầu bài” để thúc đẩy tư duy của Cty đòi nợ đưa ra những giải pháp tích cực, hiện thực mà không trái với pháp luật. Luật pháp quy định chủ nợ, khách nợ không chịu trách nhiệm liên đới đối với những vi phạm của Cty đòi nợ nhưng chủ nợ và khách nợ đều có nghĩa vụ giám sát để ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.
Giải pháp nào?
Các cụ ta thường nói “Cháo nóng húp quanh, công nợ trả dần”. Vì vậy nên chăng cần hình thành cơ chế bốn bên, chủ nợ thuê Cty này, khách nợ thuê Cty khác (bởi Nghị định 104 cấm DN dịch vụ nợ làm “đại diện đồng thời cho cả chủ nợ và khách nợ để xử lý đối với cùng một khoản nợ”), mỗi bên có một đại diện đòi hỏi phải có sự thống nhất cao về các biện pháp thu nợ để có lợi cho các bên. Cơ chế này có thể xảy ra việc “mua chuộc” lẫn nhau hoặc cùng chia lợi để thúc đẩy việc trả nợ. Tuy nhiên, đây thuộc về đạo đức nghề nghiệp và điều này cần có một cơ quan quản lý nhân sự phải có chế tài giám sát, xử lý.
Những quy định pháp luật mà DN đòi nợ có thể vận dụng: Luật Dân sự, các luật về kinh tế như Luật DN; đầu tư; thương mại; đấu thầu; đất đai, các luật chuyên ngành như chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm… và để tránh vi phạm cần phải tham khảo Luật hình sự, Luật xử phạt về vi phạm hành chính… chú ý những điều cấm đối với DN và cá nhân khi hành nghề.
Khách nợ có thể mở hội nghị giữa các bên có liên quan để thông báo về nợ phải thu, phải trả, chứng minh năng lực tài chính của mình và nêu các biện pháp xử lý nợ, lên kế hoạch thanh toán công nợ đồng thời đưa ra các bản cam kết của các bên có liên quan. Đại diện các bên được uỷ quyền theo pháp luật đi đến sự thống nhất về hành vi tác nghiệp thu nợ có hiệu lực:
- Các biện pháp thanh toán nợ thông thường: Trả bằng tiền; khấu trừ vào tài khoản của khách nợ; trả bằng hàng hoá, dịch vụ, khai thác tài sản tồn đọng để trả nợ…
- Các biện pháp chuyển đổi nợ: Chủ nợ và khách nợ có dự án đầu tư mới thì khoản nợ có thể chuyển đổi, ví dụ như chủ nợ có dự án, khách nợ trả hết nợ thì được ưu tiên tham gia góp vốn, hoặc khách nợ chấp nhận khoản nợ của mình là vốn góp của chủ nợ… Thành lập Cty cổ phần, tăng cổ phần cũng xử lý việc góp vốn cổ phần tương tự như trường hợp trên. Có thể tiến hành các vụ mua bán, sáp nhập Cty, hợp nhất Cty theo đó khách nợ chuyển một bộ phận hay toàn bộ Cty của mình vào chủ nợ được khấu trừ nợ…
- Mua bán nợ: Với số vốn pháp định 2 tỷ đồng, DN dịch vụ nợ cần tăng vốn để tham gia mua bán nợ nếu như nghiệp vụ này không thuộc diện cấm. DN làm dịch vụ nợ có thể thoả thuận mua món nợ với giá hợp lý và bán món nợ đó cho DN cũng kinh doanh dịch vụ nợ để bên chủ nợ và khách nợ dứt được món nợ không để ảnh hưởng đến công việc kinh doanh tiếp theo.
- Nên mở rộng lĩnh vực hoạt động của DN dịch vụ nợ để giải thông các món nợ khó đòi. DN dịch vụ nợ với số vốn tăng lên, huy động vốn cổ phần, vay vốn có thể tham gia đầu tư vào hoạt động của chủ nợ và khách nợ, thuê mượn tài sản để khấu trừ nợ. Đồng thời, DN thực hiện các dịch vụ tư vấn cho cho khách hàng có liên quan đến món nợ, chỉ ra những yếu kém của quản trị kinh doanh và sử dụng nguồn nhân lực ở DN… để các bên dứt nợ cũ sang nợ mới với chất lượng kinh doanh tốt hơn.
(MKLAW FIRM: Biên tập.)
5. Kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc
Sự ra đời của Bộ Luật này và các văn bản hướng dẫn thực hiện đã tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của dịch vụ đòi nợ hợp pháp tại Hàn Quốc. Đáng chú ý là, từ sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, nhu cầu về dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc tăng đột biến, làm cho hoạt động dịch vụ đòi nợ hợp pháp đã phát triển nhanh chóng tại Hàn Quốc. Theo thống kê, đến năm 2005, tại Hàn Quốc đã có 22 công ty dịch vụ đòi nợ hoạt động trong phạm vi toàn quốc, các công ty này đã có những đóng góp tích cực vào việc giải quyết nhanh tình trạng công nợ dây dưa ở Hàn Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là tình trạng công nợ xấu phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Trong phạm vi bài viết này xin giới thiệu về kinh nghiệm quản lý dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc để bạn đọc tham khảo.
Tại Hàn Quốc, hoạt động dịch vụ đòi nợ được hiểu là việc đại diện cho chủ nợ để đòi nợ thông qua các hoạt động thúc giục khách nợ trả nợ như: Gọi điện thoại, gửi thư hoặc gặp trực tiếp khách hàng để yêu cầu trả nợ. Hoạt động dịch vụ đòi nợ còn bao gồm cả việc điều tra tình hình tài sản và tài chính của khách nợ trên cơ sở khai thác những thông tin cá nhân của khách nợ tại các trung tâm lưu giữ thông tin của Nhà nước, như thông tin về tên, tuổi, địa chỉ, tình trạng hôn nhân của khách nợ, thông tin về thu nhập và tình trạng nộp thuế của khách nợ, thông tin về tình hình đăng ký tài sản (như nhà, đất, phương tiện vận tải, chứng khoán,…) thuộc sở hữu của khách nợ (tức là không nhất thiết chỉ thuộc phạm vi tài sản thế chấp). Ngoài ra, hoạt động dịch vụ đòi nợ không bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật liên quan đến việc đòi nợ.
Pháp luật Hàn Quốc quy định, phạm vi các khoản nợ được phép thực hiện bởi hoạt động dịch vụ đòi nợ là các khoản nợ giữa các tổ chức kinh tế với các tổ chức kinh tế, giữa tổ chức kinh tế với cá nhân mà trong quan hệ đó tổ chức kinh tế là chủ nợ. Các khoản nợ này bao gồm cả nợ trong nước và nợ có yếu tố nước ngoài. Các khoản nợ về thuế và các khoản nợ mà cá nhân là chủ nợ chưa được phép thực hiện bởi dịch vụ đòi nợ.
Tuy nhiên, pháp luật Hàn Quốc cũng quy định, cá nhân không được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Chỉ các công ty dịch vụ đòi nợ được cấp giấy phép hoạt động mới được phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Các công ty dịch vụ đòi nợ không được phép đồng thời kinh doanh các ngành nghề khác ngoài hoạt động dịch vụ đòi nợ, đặc biệt là không được phép kinh doanh ngành nghề mua bán nợ. Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động dịch vụ đòi nợ được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và khách nợ.
Về điều kiện để được kinh doanh dịch vụ đòi nợ: Hàn Quốc coi dịch vụ đòi nợ là một loại hình dịch vụ tài chính có điều kiện và cần được quản lý chặt chẽ. Do vậy, để được kinh doanh dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc, tổ chức và cá nhân phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động và thành lập công ty dịch vụ đòi nợ. Luật của Hàn Quốc quy định những điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ như sau: (i) Công ty dịch vụ đòi nợ dự kiến thành lập phải có mức vốn điều lệ ít nhất bằng 1,5 tỷ Won, tương đương 1,5 triệu USD; (ii) Hơn 50% vốn điều lệ của Công ty dịch vụ đòi nợ phải được sở hữu bởi các cổ đông là các tổ chức tài chính, tín dụng; (iii) Phải đảm bảo cho Công ty dịch vụ đòi nợ dự kiến thành lập có đủ đội ngũ nhân viên phù hợp với hoạt động dịch vụ đòi nợ (có tối thiểu 20 nhân viên dài hạn) và đảm bảo có được hệ thống thiết bị thông tin cần thiết cho hoạt động của Công ty; (iv) Cổ đông sáng lập Công ty dịch vụ đòi nợ phải là tổ chức, cá nhân có đủ khả năng về tài chính, có hoạt động kinh doanh tốt, đúng pháp luật và có uy tín xã hội tốt; (v) Các cá nhân trong bộ máy lãnh đạo của Công ty dịch vụ đòi nợ phải là người có đủ năng lực pháp luật, năng lực chuyên môn và có lịch sử cá nhân tốt, đặc biệt là chưa từng quá hạn trong việc trả nợ vay.
Với mục tiêu là làm cho hoạt động dịch vụ đòi nợ được thực hiện đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và khách nợ, bên cạnh các quy định về điều kiện được kinh doanh dịch vụ đòi nợ, pháp luật Hàn Quốc còn quy định rất cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm thực hiện đối với các Công ty dịch vụ đòi nợ và nhân viên của các Công ty đó. Cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm: Tấn công thân thể khách nợ; Đe dọa khách nợ; Sử dụng bạo lực trong quá trình đòi nợ; Thực hiện các hành vi lừa bịp để đòi nợ; Xâm phạm đời tư người khác trong quá trình đòi nợ; Không xuất trình thẻ nhân viên khi đòi nợ; Công ty dịch vụ đòi nợ và nhân viên của Công ty không được tiết lộ cho người khác những thông tin liên quan đến chủ nợ và khách nợ, đồng thời không được sử dụng những thông tin đó để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh khác. Quy định này áp dụng cả đối với những nhân viên của Công ty dịch vụ đòi nợ đã thôi việc trong một số năm nhất định tính từ sau ngày thôi việc.
Để đảm bảo cho các hành vi bị nghiêm cấm nêu trên được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, luật pháp Hàn Quốc quy định rất cụ thể các hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với các vi phạm. Cụ thể như: Đối với những trường hợp vi phạm như: tấn công thân thể, đe dọa hoặc sử dụng bạo lực, lừa bịp sẽ bị phạt tù tới 5 năm và bị phạt tiền tới 50 triệu Won; Những trường hợp vi phạm do xâm phạm đời tư sẽ bị phạt tù tới 3 năm và bị phạt tiền tới 30 triệu Won; Trường hợp không xuất trình thẻ nhân viên khi đòi nợ sẽ bị đình chỉ hoạt động trong hai tháng.
Về phí thực hiện dịch vụ đòi nợ: Từ năm 1997 đến năm 2004, Bộ Tài chính và kinh tế Hàn Quốc quy định mức tối đa đối với phí thực hiện dịch vụ đòi nợ. Theo quy định đó, đối với nợ quá hạn dưới 1 năm, mức phí dịch vụ đòi nợ tối đa là 20% tính trên số nợ thực tế thu được; Đối với nợ quá hạn trên 1 năm, mức phí tối đa 30% tính trên số nợ thực tế thu được. Trong phạm vi mức phí tối đa do Bộ Tài chính quy định, các công ty dịch vụ đòi nợ được quyền thỏa thuận với khách hàng để thống nhất mức phí cụ thể đối với từng khoản nợ. Tuy nhiên đến năm 2004, Hàn Quốc đã bãi bỏ quy định về mức phí tối đa. Do vậy, từ năm 2004 đến nay, mức phí thực hiện dịch vụ đòi nợ hoàn toàn được quyết định bởi thị trường theo cơ chế thỏa thuận giữa công ty dịch vụ đòi nợ và khách hàng. Hiện nay, phí dịch vụ đòi nợ bình quân trên thị trường Hàn Quốc giao động trong khoảng 18%-23% đối với nợ ngắn hạn và 30%-40% đối với nợ dài hạn.
Việc bãi bỏ quy định về mức phí tối đa, theo lý giải của Hàn Quốc là nhằm làm cho phí thực hiện dịch vụ đòi nợ phù hợp hơn với nhu cầu thực tế trên thị trường thông qua cơ chế thỏa thuận được quyết định bởi quy luật cung cầu và phù hợp với sự đa dạng, phức tạp của các khoản nợ trên thực tế. Tuy nhiên, phía Hàn Quốc cũng cho rằng, trong giai đoạn đầu, khi thị trường dịch vụ đòi nợ mới hình thành, thì việc quy định mức phí dịch vụ tối đa là cần thiết nhằm tạo cơ sở có tính định hướng cho việc xác định mức phí dịch vụ đòi nợ trên thị trường.
Ngoài các quy định nêu trên, pháp luật Hàn Quốc còn quy định Bộ Tài chính và kinh tế Hàn Quốc là cơ quan xây dựng để trình Chính phủ, Quốc hội ban hành hoặc được phép ban hành trong phạm vi thẩm quyền của mình các văn bản pháp luật về dịch vụ đòi nợ. Viện Giám sát tài chính Hàn Quốc là cơ quan cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ đòi nợ, đồng thời thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các công ty dịch vụ đòi nợ
Tóm lại, hoạt động dịch vụ đòi nợ tại Hàn Quốc đã có những đóng góp rất tích cực vào việc giải quyết nhanh tình trạng công nợ dây dưa trong nền kinh tế Hàn Quốc, đặc biệt sau giai đoạn khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc quản lý dịch vụ đòi nợ là rất có ý nghĩa đối với Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật để quản lý và phát triển hoạt động dịch vụ đòi nợ.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)