1. Luận cứ bảo vệ vụ việc “tranh chấp thừa kế” ?

Tóm tắt nội dung vụ kiện tranh chấp thừa kế: Ông bà NTP và PTL có sáu đứa con (3 trai, 3 gái) và từ năm 1965 đã thuê đất của bà LTD làm nhà cùng sinh sống với đứa con trai thứ tư, lúc bây giờ còn độc thân là NTQ tại số nhà 916B/11 Lê Văn Duyệt. Đến năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà chủ đất LTD đã bỏ đi biệt tích, không còn đến thu tiền thuê đất nữa, nên ông bà NTP và PTL đã chiếm hữu và hợp thức hóa quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở với chính quyền cách mạng.

Khi bà PTL mất năm 1984 và ông NTP mất năm 1988, không để lại di chúc, thì ông NTQ tranh thủ các đồng thừa ký tên xác nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất căn nhà 916B/11 là thuộc ông NTQ để đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà đứng tên ông Q. Các đồng thừa kế xem việc xác nhận chỉ mang tính thủ thuật hình thức để người anh em mình (là ông Q) hợp thức hóa căn nhà thừa kế chung. Nhưng ngay đó, khi ông Q đang tiến hành thủ tục, do biết ý đồ muốn chiếm hữu riêng của ông này nên các đồng thừa kế đã làm đơn ngăn chặn. Chính vì vậy mà sau đó UBND/TPHCM đã cấp giấy CN/QSDĐỞ và QSHNỞ thuộc ông bà NTP và PTL (đã chết) do con là NTQ đứng tên đại dịên các đồng thừa kế khai trình. Nhưng từ đó đến nay đã trên 7 năm, ông NTQ vẫn chiếm hữu và cho một thương nhân thuê căn nhà 916B/11 này mà không đếm xỉa đến quyền lợi của anh chị em khác (kể cả 3 chị em ở nước ngoài), nên đã phát sinh tranh chấp thừa kế. Nhưng vì các nguyên đơn do không am hiểu pháp luật về tranh chấp quyền thừa kế nên đã nạp đơn tranh chấp vào thời điểm (ngày 7/02/2002) đã quá hạn thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo điều 645 BLDS 2005, tính từ thời điểm mở thừa kế là đầu năm 1988 (sau cái chết của ông bà NTP và PTL). Đây là vụ kiện có sự vận dụng từ tranh chấp thừa kế thành tranh chấp tài sản sở hữu chung.

Bản tin Luật sư xin giới thiệu bản luận cứ của Luật sư Nguyễn Đăng Liêm bảo vệ quyền lợi của các thân chủ là nguyên đơn trong vụ kiện để các bạn đọc tham khảo.

Vì đây là vụ kiện dân sư, nên do yêu cầu tế nhị , Luật sư Liêm đã đề nghị thay đổi họ tên các đương sự trong vụ kiện để tránh đụng chạm.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

BẢN LUẬN CỨ

Kính thưa hội đồng xét xử,

Tôi là luật sư XXXX, trưởng văn phòng luật sư Quang Trung, trực thuộc đoàn Luật sư Tp.HCM. Được sự yêu cầu của hai thân chủ tôi là các nguyên đơn: Bà NTH và Cô NTLT trong vụ kiện “tranh chấp thừa kế”, và cũng được quí tòa chấp thuận cho phép qua đăng kí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các đương sự. Trong vụ kiện này, tôi cũng xin mạn phép Quí Tòa được phép bảo vệ chung cả hai thân chủ, vì cả hai đều là nguyên đơn dân sự, đều có chung một yêu cầu hoàn toàn giống nhau. Hôm nay, trên cơ sở các bút lục tại hồ sơ vụ kiện và qua các nội dung xét hỏi tại tòa, tôi xin phép Hội Đồng xét xử được trình bày bản luận cứ bảo vệ như sau:

Loại trừ hai căn nhà tranh chấp không có cơ sở pháp luật, mà vào giờ cuối bị đơn dân sự NTQ đã rút lại phần phản tố của mình ngay tại phiên toà hôm nay; phần còn lại tranh chấp là căn nhà 916B/11 đường Lê Văn Duyệt mà theo tôi đúng là tài sản chung do cha mẹ để lại, là tài sản đồng hưởng thừa kế của các đương sự (trong đó có cả các nguyên đơn và bị đơn), xuất phát từ các lý do sau:

1. Đây là phần đất do chính ông bà NTP và PTL trực tiếp thuê đất từ chủ đất bà LTD từ những năm 1960 và tự bỏ tiền xây dựng nhà ở và vào thời điểm 1975, chủ đất mất tích, nên ông bà NTP và PTL đương nhiên chiếm hữu luôn phần đất thuê này (vì không còn ai đòi tiền thuê đất nữa).

2. Theo lời tự khai của bị đơn NTQ với tòa vào ngày 06/5/2008, tại bút lục hồ sơ vụ kiện, đã chứng minh rõ ràng trước khi qua đời, cha mẹ các đương sự, chưa hề tặng cho bất cứ đứa con nào về tài sản (kể cả nhà và quyền sử dụng đất) cả, chỉ có việc duy nhất là chuyển bớt quyền thuê đất cho các nguyên đơn mà thôi và riêng bị đơn cũng chỉ ở nhờ chung với cha mẹ ruột để trực tiếp phục vụ cha mẹ (có thể do lòng hiếu thảo), mà cũng chưa được cha mẹ tặng cho hoặc di chúc lại bất cứ tài sản nào. Vì lúc bấy giờ, NTQ là quân nhân trong quân đội Sài Gòn, còn độc thân, lòng hiếu thảo của bị đơn Q thật đáng được hoan nghênh.

3. Các việc xác nhận qua lại giữa các nguyên đơn và bị đơn trước đây tại các cuộc họp tổ dân phố tại phường, kể cả các nhân chứng, chỉ là thủ thuật đối phó để được hợp thức hóa nhà cửa vì quyền lợi chung của anh chị em trong nhà mà thôi, hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Và khi phát hiện tham vọng của bị đơn NTQ muốn biến căn nhà và quyền sử dụng đất số 916B/11 của cha mẹ để lại chung cho anh chị em thành tài sản riêng của mình thì ông NTB và bà NTLT đã làm đơn ngăn chặn kịp thời ngay, nên tham vọng của bị đơn Q không thành công.

4. Chính bị đơn Q do sơ sót tên của người anh ruột là NTB trong việc ông tự làm hồ sơ đăng ký nhà đất đối với căn nhà tranh chấp 916B/11 nên đã phải làm tờ cam kết vào ngày 19/9/2003 tại Ban Tư Pháp phường X quận Y với nội dung nguyên văn như sau: “Tôi đồng ý bổ sung tên ông NTB vào tờ khai đăng ký khai trình “giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và có tên trong tờ khai lệ phí trước bạ. Lý do: tôi mướn dịch vụ làm hồ sơ đăng ký giấy chủ quyền sở hữu nhà ở, có sự sơ sót tên ông NTB. Theo yêu cầu ông B, tôi sẽ bổ sung vào tờ khai trước bạ và sao y bản chánh tờ giấy chứng nhận cho ông B”. Như vậy, rõ ràng việc đăng ký quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất căn nhà 916B/11 Lê Văn Duyệt (đang tranh chấp) do chính bị đơn NTQ đạo diễn cả, nên việc ông Q đỗ thừa sơ sót cho người làm dịch vụ và cho cơ quan quản lý nhà đất thời bấy giờ là hoàn toàn không đúng đắn.

Và thực tế là người làm dịch vụ do bị đơn Q thuê và trực tiếp chi trả thù lao, việc cung cấp các họ tên người đồng thừa kế cũng chính do bị đơn Q kê khai qua người dịch vụ chấp bút mà thôi, gồm cả NTQ, NTH, NTLT, NTB là hoàn toàn tự nguyện và có ý thức rõ ràng, chủ động, nên việc bị đơn ghi trong “đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn” ngày 24/10/2007 nội dung là: “Không biết vì lý do gì, ngày 6/5/2002 UBND TPHCM cấp cho tôi quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 15181/2002 với nội dung: “chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở: ông NTP (chết năm 1988) bà PTL (chết năm 1984) do con là NTQ đại diện đứng tên khai trình.” Đã thể hiện bị đơn Q đã tự mâu thuẫn với chính mình, do thiếu trung thực và thiếu nghiêm túc trước pháp luật.

5.Và lý do cuối cùng, có cơ sở pháp lý vững chắc nhất, trên giấy trắng mực đen “giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” căn nhà số 916B/11 Lê Văn Duyệt theo số hồ sơ gốc số 15181/2002 ngày 6/5/2002 do UBND TPHCM cấp đã ghi rõ ở mục I “Chủ sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở” xác định rõ là ông NTP và bà PTL (đã chết), do con là ông NTQ, sinh năm 1946 CMND số: 020712796 đại diện đứng đơn khai trình.

Giấy chứng nhận này cũng ghi rõ thửa đất số 1132, tờ bản đồ số 8, dịên tích 128.4m2, diện tích nhà sử dụng là 156.7m2, tường gạch, sàn gỗ, mái tôn, 1 tầng lững. Cho nên việc bị đơn Q đề nghị trong đơn yêu cầu phản tố nội dung “chỉ chia phần đất thừa kế 36m2 , còn lại 92.40m2 là do bị đơn khai phá lấn chiếm” là không có cả cơ sở thực tế và pháp lý. Vì căn nhà và quyền sử dụng đất ở số 916B/11 vẫn giữ nguyên trạng từ trước đến nay là một mặt giáp với hẻm cố định, một mặt giáp với nghĩa địa Ấn Độ (nay là đường Thống Nhất), hai mặt còn lại giáp sát nách hai căn nhà hàng xóm láng giềng, không hề có chỗ trống bỏ hoang để lấn chiếm, kể cả nghĩa trang Ấn Độ do nhà nước giải tỏa đền bù sau này để làm đường Thống Nhất không dễ gì lấn chiếm được, như cách trình bày của bị đơn NTQ. Bị đơn Q chỉ sửa chữa, tu bổ và mở mặt tiền ra hướng Trường Sơn để tiện cho thuê kinh doanh mà thôi. Tiền cho thuê này đã bảy năm nay các thân chủ tôi đã tỏ thái độ thông cảm là để cho bị đơn Q hoàn toàn thụ hưởng để bù đắp sự hiếu thảo, có công chăm sóc cha mẹ trước đây và chi phí sửa chữa, tu bổ nhà là hoàn toàn hợp tình, hợp lý rồi.

Tóm lại, trên cơ sở các luận cứ đã trình bày trên, với tư cách luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các nguyên đơn NTH và NTLT, tôi trân trọng kính đề nghị hội đồng xét xử căn cứ điều 674, điều 675 khoản 1 điểm a, điều 676 khỏan 1 điểm a và khoản 2 về thừa kế theo pháp luật và điều 677 về thừa kế thế vị, điều 678 của bộ luật dân sự nước CHXHCNVN năm 2005 để xem xét quyết định:

1. Bác đơn yêu cầu phản tố của bị đơn NTQ.

2. Công nhận căn nhà và quyền sử dụng đất số 916B/11 thuộc sở hữu của ông bà NTP và PTL (đã qua đời) với diện tích sử dụng đất 128.4m2 theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do UBND TPHCM cấp ngày 6/5/2002, mà bị đơn NTQ chỉ là người đại diện đứng đơn khai trình và đây chính là tài sản đồng thừa kế chung cho các nguyên đơn, bị đơn trong vụ tranh chấp và các anh chị em ruột khác của các đương sự theo pháp luật ( vì ông bà NTP và PTL không để lại di chúc). Mặc dù thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã quá hạn, vì ông NTP mất năm 1988, mà các nguyên đơn mới khởi kiện vào ngày 7/2/2007. Nhưng theo tôi, có thể vận dụng hợp pháp đây là vụ kiện tranh chấp tài sản chung sau thừa kế theo pháp luật, trên cơ sở giấy CN/QSDĐỞ vaø QSHNỞ do UBND. TPHCM đã cấp ngày 6/5/2002 có tên đầy đủ các đồng thừa kế (cả các nguyên đơn và bị đơn). Vì vậy, toàn bộ quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở căn nhà số 916B/11 phải được chia đều cho các đồng thừa kế theo quy định pháp luật (chỉ ngoại trừ quyền thụ hưởng hoa lợi cho thuê kinh doanh căn nhà từ trước đến nay dành riêng cho bị đơn NTQ, theo thoả thuận tự nguyện của các nguyên đơn), căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do bị đơn Q đại diện cho các đồng thừa kế đứng tên khai trình ngày 6/5/2002 (vì đây là tài sản chung đã được xác định, không bị ảnh hưởng bởi thời hiệu khiếu kiện thừa kế. (theo điều 645 của Bộ luật dân sự năm 2005).

Trân trọng kính kiến nghị và kính cảm ơn Hội đồng xét xử.

...............................................................

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Nhập quốc tịch nước ngoài thì có được hưởng thừa kế không ?

Chào luật sư, Luật sư cho tôi hỏi:Tôi là người Việt Nam, đang mang quốc tịch Việt Nam, nay tôi có ý định xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài. Nhưng tôi không biết khi tôi mang quốc tịch nước ngoài thì sau này tôi có được hưởng thừa kế tại Việt Nam không?

Công dân Việt Nam thôi quốc tịch Việt Nam và nhập quốc tịch nước ngoài thì có được hưởng thừa kế không?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, thừa kế có hai hình thức là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.

Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Thời điểm mở thừa kế theo quy định pháp luật là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp thừa kế theo di chúc, Điều 624 quy định về khái niệm của di chúc như sau:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Đối với trường hợp thừa kế theo di chúc, từ các quy định trên có thể thấy, pháp luật về thừa kế ghi nhận quyền để lại di sản thừa kế và quyền được hưởng di sản thừa kế của cá nhân, tổ chức không phân biệt cá nhân, tổ chức đó có quốc tịch Việt Nam hay quốc tịch nước ngoài. Người thừa kế chỉ cần đảm bảo điều kiện là còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết( đối với người thừa kế là cá nhân), nếu người thừa kế không phải là cá nhân( có thể pháp nhân, tổ chức khác...) thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người thừa kế trong trường hợp thừa kế theo di chúc là người được chỉ định cụ thể trong di chúc và hoàn toàn theo ý chí chủ quan của người để lại di chúc. Do đó người thừa kế hoàn toàn có thể là người có quốc tịch Việt Nam hoặc người đang mang quốc tịch nước ngoài.

Trường hợp thừa kế theo pháp luật.

Điều 649. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Theo quy định trên, trường hợp thừa kế theo pháp luật thì người thừa kế bắt buộc phải thuộc một trong các hàng thừa kế theo quy định tại Điều 651 như trên, hay nói cách khác, người thừa kế phải có mối quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người chết. Như vậy, trường hợp thừa kế theo pháp luật cũng không hạn chế việc người thừa kế là người hiện đang mang quốc tịch Việt Nam hay đang mang quốc tịch nước ngoài mà chỉ cần người đó là một trong những người thuộc hàng thừa kế theo quy định trên thì sẽ có quyền hưởng di sản thừa kế do người chết để lại. Việc chứng minh quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng thì người thừa kế phải cung cấp được các giấy tờ, văn bản có giá trị pháp lý,... ghi nhận mối quan hệ đó giữa người thừa kế và người chết để lại.

Như vậy, từ các quy định trên có thể thấy, bạn là công dân Việt Nam nay thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài thì sau khi bạn đã nhập quốc tịch nước ngoài bạn vẫn có quyền được hưởng di sản thừa kế theo các quy định về thừa kế như trên. Tuy nhiên, đối với mỗi loại tài sản cụ thể do người chết để lại, thì sẽ có các quy định của pháp luật chuyên ngành điều chỉnh, việc hưởng di sản thừa kế trong những trường hợp đó phải tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Chia thừa kế theo pháp luật như thế nào ?

Kính chào Luật sư! Gia đình tôi cần được tư vấn về thừa kế như sau: Theo tôi được biết thì tài sản thừa kế sẽ được chia theo di chúc, vậy khi nào thì chia theo pháp luật? Việc chia này được thực hiện như thế nào và ai là người được hưởng tài sản thừa kế.

Trả lời:

Ngày 1/1/2017 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, trong đó Bộ luật cũng dành hẳn một Chương quy định riêng về chế độ Thừa kế (chương XXI). Theo đó chế độ thừa kế được chia làm hai hình thức là thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.

1. Thừa kế theo pháp luật được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a, Khi người có tài sản thừa kế mất mà không có di chúc để lại

b, Di chúc không hợp pháp, đó là khi mà người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép và nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

c, Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d, Những người được chỉ định hưởng di sản trong di chúc nhưng từ chối nhận hoặc không có quyền hưởng di sản

đ, Phần di sản không được người có tài sản định đoạt trong di chúc

e, Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

2. Những ai được hưởng thừa kế theo pháp luật ?

Nếu như di chúc không phân biệt đối tượng hưởng di sản thừa kế, người hưởng di sản có thể là người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân; cũng có thể là bạn bè, đồng nghiệp...Thì thừa kế theo pháp luật lại khác, theo quy định của Bộ luật dân sự, chỉ có những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân, những người có quan hệ trong gia đình thì mới được hưởng di sản thừa kế.

Việc thừa kế theo pháp luật được phân chia theo thứ tự hàng thừa kế, cụ thể như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

Trên thực tế, có một số trường hợp hi hữu, đó là người để lại tài sản không để lại di chúc định đoạt tài sản thừa kế và người thừa kế theo pháp cũng không còn ai để hưởng di sản thừa kế. Trong trường hợp này, di sản thừa kế được giải quyết như sau: tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

3. Những ai không được hưởng thừa kế theo pháp luật ?

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, hoặc có hành vi xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

4. Tỷ lệ hưởng di sản thừa kế theo pháp luật:

Bởi đây là thừa kế theo pháp luật, cho nên về nguyên tắc những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần thừa kế bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Di sản thừa kế có thể phân chia bằng hiện vật theo yêu cầu của những người thừa kế theo pháp luật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.

5. Giải quyết chia di sản thừa kế nếu có tranh chấp xảy ra ?

Thừa kế là một vấn đề rất dễ xảy ra tranh chấp, vì thế để giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế những người thừa kế có thể lựa chọn một trong hai cách thức sau:

Thứ nhất là tự thỏa thuận phân chia thông qua biên bản họp gia đình, văn bản phân chia di sản thừa kế và công chức, chứng thực (phương án này đảm bảo được việc tự thương lượng và giữ được đoàn kết gia đình)

Thứ hai, trong trường hợp tranh chấp mà không thể thương lượng được thì có thể khởi kiện phân chia thừa kế tại Tòa án nhân dân; theo quy định thì việc khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thừa kế có thời hiệu là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hiệu này nếu không có yêu cầu thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.

Trường hợp khách hàng cần tư vấn cụ thể về vấn đề thừa kế có thể liên hệ đến tổng đài 1900.6162 để được tư vấn chuyên sâu. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Tranh chấp phân chia đất đai thừa kế giữa các đồng thừa kế ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 2007 chú ba của tôi mất không để lại di chúc, tài sản để lại của chú ba tôi là mảnh đất vườn tạp với diện tích khoảng 11ha ( đặt biệt là miếng đất này chú tôi có là do ba mẹ cho cộng với một phần khai hoang trước 1975 và chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng mỗi năm chú ba tôi vẫn đóng tiền thuế đất nông nghiệp bình thường).

Bên cạnh đó chú ba tôi không có vợ con và ông bà nội (cha mẹ ruột của chú tôi) cũng đã chết, chỉ còn lại 5 người anh chị em ruột của chú tôi còn sống. do không có điều phân chia tài sản thừa kế nên đến đầu 2017 các anh em mới quyết định phân chia tài sản nhưng lại có hai luồn ý kiến trái chiều như sau:
+ Ý kiến 1 là bốn anh em ( gồm ba tôi, chú tư, cô hai, cô năm) thống nhất chia 6 phần gồm 5 phần mỗi người đều nhau và mỗi người đứng giấy chủ quyền riêng còn 1 phần đất huơng quả thì cùng nhau đứng giấy chủ quyền chung.
+ Ý kiến 2 là chỉ mình cô út tôi muốn chia 5 phần mỗi phần đều nhau và đứng tên riêng nhưng phần huơng quả thì út không chịu đứng tên chung mà út muốn phần hương quả đó thuộc quyền sở hữu của riêng út ( với lý do là trong mười năm qua út là người đứng ra đóng thuế đất nông nghiệp thay cho chú ba và mỗi lần đám giỗ chú ba út tổ chức mà trong các anh em không ai trả tiền cả vì vậy út phải hưởng phần hương quả) nhưng các anh em trong nhà phản bác lại là út là người duy nhất trong năm anh em đang sinh sống nhờ trên mảnh đất của chú ba và út là người duy nhất hưởng lợi từ miếng đất ( do út có trồng hai liếp rau muốn và xây chuồng nuôi gà bên cạnh đó còn thu hoạch dừa để bán và tất cả điều nằm trên mảnh đất của chú ba) nên bốn anh em còn lại không đồng ý cho út hưởng riêng phần hương quả. vậy xin hỏi luật sư trường hợp này ai đúng ai sai? và giải quyết phần đất đó như thế nào là đúng luật nhất?
Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Chia thừa kế theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự mới nhất

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau: Như bạn trình bày: Chú ba bạn mất năm 2007. Có để lại một khối di sản đó là một thửa đất vườn tạp với diện tích khoảng 11ha ( thửa đất này chú bạn có được từ phần cha mẹ của chú cho cộng với một phần khai hoang trước 1975 và chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng mỗi năm chú ba vẫn đóng tiền thuế đất nông nghiệp bình thường). Chú Ba không có vợ con, ông bà nội cũng đã mất, Chú ba mất cũng không để lại di chúc. Từ khi chú mất đến nay thì mảnh đất do Cô út trông coi và có sử dụng. Hiện nay chú ba bạn có 5 anh em ruột còn sống và đều nằm trong diện được hưởng thừa kế. Nhưng việc chia thừa kế lại có sự mâu thuấn trong việc phân chia di sản mà Chú ba bạn để lại, giữa 5 anh em.Vấn đề này được pháp luật quy định như sau:

Căn cứ Luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Điều 656. Họp mặt những người thừa kế
1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế ….những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:
b) Cách thức phân chia di sản.
2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản."

Từ căn cứ pháp luật nêu trên và trường hợp của bạn đưa ra.Trước hết phải xác định di sản thuốc quyền sở hữu của chú ba bạn để lại về mặt pháp lý.Bởi vì đối với phần di sản mà Chú Ba bạn để lại là một thửa đất được hình thành trước năm 1975 và hiện nay chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Để có thể chia được khối di sản này. Trước hết những người nằm trong hàng thừa kế thứ nhất ( 5 anh em) có quyền được nhận di sản của chú ba bạn nên họp gia đình để có một bản thỏa thuận thống nhất về việc yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã nơi có thửa đất này, xác nhận ranh giới cũng như tình trạng đất là phần di sản của chú ba bạn để lại.

Sau khi phần di sản được xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã nơi có thửa đất này. Nếu các đồng thừa kế nhất trì không đưa vụ việc ra tòa thì nên cử một trong hàng thừa kế đứng ra đại diện đăng ký quyền sử đất trên cơ sở bản thỏa thuận của các đồng thừa kế. Sau khi được cgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ tiến hành tách thửa cho các đồng thừa kế theo thỏa thuận.


Đối với vấn đề Cô út bạn được Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 616. Người quản lý di sản
2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

Điều 617. Nghĩa vụ của người quản lý di sản
2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;
b) Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
c) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
d) Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.
Điều 618. Quyền của người quản lý di sản
2. Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản quy định tại khoản 2 Điều 616 của Bộ luật này có quyền sau đây:
a) Được tiếp tục sử dụng di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;
b) Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế;
c) Được thanh toán chi phí bảo quản di sản.
3. Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý.

Như vậy từ căn cứ pháp lý nêu trên đối với trường hợp của cô út bạn là người đang sử dụng và quản lý di sản của Chú ba bạn mà không có sự đồng ý của người để lại di sản và cũng như các đồng thừa kế biết mà không phải đối từ năm 2007 đến 2017. Do đó Cô út bạn là người quản lý di sản. Nên cô út bạn sẽ được các đồng thừa kế trả cho một khoản chi phi hợp lý cho công sức quản lý bảo quản di sản như thuế đất, chi phí hương hỏa và các chi phí khác liên quan đến việc cải tạo thửa đất này. Còn phần di sản sẽ được chia đều cho 5 người băng nhau trên cơ sở thỏa thuận của các đồng thừa kế hoặc bản án của tòa án vụ án yếu cầu tòa giải quyết.Nếu như nhất trí đề ra một phần đất làm đất hương hỏa thì các đồng thừa kế có thể đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất hương hỏa này theo quy định của Luật đất đai năm 2013.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Tư vấn về thời hiệu thừa kế quyền sử dụng đất ?

Xin chào Luật sư! Em có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Ông bà có 7 anh chị e ở trên mảnh đất 1700m2 .Bố em, hai cô và chú A đi làm ăn xa.Ông mất năm 1975 chỉ còn chú B ở với bà tới năm 1995 thì bà mất nhưng không để lại di chúc và chú B vẫn sống trên đất mà bà để lại.

Năm 2003 chú có bán đi 900m2 nhưng không có sự đồng ý của bố và chú A nhưng bố em nghĩ vì là anh em nên không kiện cáo gì và cũng không rõ luật đất đai nên không có tranh chấp cứ nghĩ đất ông bà để lại là có phần mình. Năm 2014 bố và chú B có thoả thuận là đưa bố 250 triệu làm bìa ở nơi bố đang sống nên bố em có kí vào tờ giấy viết tay cho chú sử dụng đất. Đến nay khi bố hỏi tiền làm bìa chú nói không có nên bố em muốn lấy phần đất của bố thì có được không. Em cũng có tìm hiểu qua là thời gian khởi kiện đã hết. Nhưng em thấy có điểm lại nói là chia tài sản thừa kế sau khi hết thời điểm khởi kiện là như thế nào. Nhờ Luật sư tư vấn hướng giải quyết cho gia đình em.

Em xin cảm ơn !

Tranh chấp phân chia đất đai thừa kế  giữa các đồng thừa kế ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời

Điều 639 Bộ luật dân sự 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế". Theo thông tin bạn cung cấp thì bà bạn mất năm 1995 nên thời hiệu khởi kiện thừa kế trong trường hợp này đã hết. Tuy nhiên, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình quy định như sau:

" 2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản"

Như vậy, ông bà bạn đã chết và không để lại di chúc, diện tích đất do chú bạn đang sử dụng chưa được chia thừa kế nên diện tích đất này sẽ là tài sản chung của bảy đồng thừa kế. Việc phân chia tài sản chung khi không có di chúc sẽ được thực hiện như sau:

- Nếu các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mõi người được hưởng thì việc phận chia tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của họ

- Nếu không có thỏa thuận thì sẽ thực hiện theo các quy địng của pháp luật về chia tài sản chung.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?