Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật dư hãy cho tôi biết những luận điểm trung tâm của phân tích hệ thống là gì? Khái niệm hệ thống?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Mở đầu vấn đề
Khi phân tích hệ thống cần phải dựa vào các dấu hiệu cơ bản là: tiếp nhận hiện thực và các khía cạnh khác nhau của nó với tư cách là một hệ thống, tức là các yếu tố thống nhất, gắn liền với nhau về cơ cấu và chức năng. Các dấu hiệu đó đã được làm sáng tỏ từ thế kỷ XIX. Người ta cho rằng, một trong những người sáng lập ra cách tiếp cận hệ thống là nhà khoa học người Nga Alekxander Aleksandrovich Bogdanov. Từ đầu thế kỷ XX nhà khoa học này đã xây dựng nên "khoa học tổ chức chung" mà theo đó những luận điểm về tổ chức vẫn còn phù hợp với nhận thức hiện nay về hệ thống.
Các nghiên cứu tiếp theo về định hướng đó cho phép xây dựng nên lý luận chung về hệ thống. Lý luận đó chỉ ra những đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống là: tính phức tạp, tính vững chắc, tính ổn định, tính mở/đóng,....
2. “Hệ thống” và “môi trường”
Đế hiểu được ý nghĩa của cách tiếp cận hệ thống dưới dạng đơn giản nhất có thể tách ra trong môi trường bao quanh tính thống nhất nào đó, tức là hệ thống. Có thể thực hiện được điều đó khi so sánh cái khác đối lập với hệ thống là môi trường. Sự phân biệt hệ thống với môi trường có ý nghĩa hàng đầu. Rõ ràng là môi trường không chỉ là môi trường bên ngoài (hệ thống bao quanh) mà còn là môi trường bên trong (hệ thống bao quát chính bản thân hệ thống).
Tính hệ thống nào đó được tách ra từ môi trường không thể được nhận thức ngay. Trong khoa học các khách thể chưa được giải mã được gọi là "hộp đen" - cái hộp đen đó chỉ rõ một điều rằng, cái gì tác động đến hộp đen đó khi gia nhập vào nó và cái gì bắt nguồn từ nó. Sớm hay muộn cũng sẽ xuất hiện vấn đề cái gì chứa đựng trong "hộp đen", các quá trình như thế nào diễn ra ở đó. Để nhận thức được điều đó có thể tách ra trong chính sách pháp luật các yếu tố đơn giản nhất mà có thể với sự hỗ trợ của chúng có thể mô tả được chính sách pháp luật, khi xác định được các thuộc tính, các dấu hiệu, các định hướng tác động, các nguồn lực của nó, V.V.. Bằng cách như vậy, cấu thành của hệ thống, các yếu tố của nó được làm sáng tỏ. Do đó, hệ thống đã được thấu hiểu và được khai thác - đó là tong thể các yêu tố. Ở đây, hệ thống có thể được định nghĩa là sự kết hợp các yếu tô'trong mối liên hệ lẫn nhau, mà ở đó sự kết hợp như vậy sinh ra cái mới - cái hệ thống - chất lượng. Điều đó có nghĩa rằng, hệ thống không thể được thay thế bằng tổng SỐ các yếu tố của mình.
3. Khái niệm hệ thống
Hệ thống (system) là một tập hợp các bộ phận hoạt động phụ thuộc lẫn nhau để đạt mục đích chung. Hệ thống có nhiều cấp độ, từ nhóm, tổ chức, quốc gia, liên quốc gia... Hệ thống đóng là hệ thống độc lập và không tương tác với môi trường bên ngoài. Hệ thống mở là hệ thống tương tác với môi trường bên ngoài để tồn tại. Hệ thống mở vì sự tồn tại của tổ chức phụ thuộc vào sự tương tác với môi trường xung quanh. Trong thực tiễn, hai loại hệ thống này không hoàn toàn phân biệt. Điểm then chốt để phân loại một hệ thống thuộc tương đối đóng hay tương đối mở là xác định lượng tương tác giữa hệ thống và môi trường.
Để hiểu rõ một tổ chức, cần xác định thành phần liên quan đến hoạt động và khám phá cách thức tương tác của nó. Tư duy hệ thống mở sẽ giúp nhà quản trị quan tâm đến các khía cạnh quản lý khác nhau của tổ chức, cũng như thực tiễn bên trong và bên ngoài, xem xét khả năng các nguồn lực, sự phát triển công nghệ, xu hướng thị trường khi sản xuất và bán sản phẩm hay dịch vụ.
Một số người nhận xét rằng, tư duy hệ thống thiên về sự hấp dẫn tri thức và thuật ngữ sẽ thiếu sự kiện minh chứng cụ thể và tiếp cận thực tiễn. Mặt khác, nên tránh so sánh tương đồng giữa tổ chức xã hội và hệ thống vật lý hay sinh học. Tiếp cận hệ thống không chỉ là một tập hợp kiến thức mà là một cách thức để tư duy về quản trị tại các tổ chức hiện đại.
4. Bàn luận về cách tiếp cận hệ thống
Theo cách tiếp cận hệ thống, hầu như từng hệ thống có thể được coi là một tiểu hệ thống, tức là một yếu tố của hệ thống khác có trật tự lớn hơn. Nói cách khác, tính hệ thống đòi hỏi phải có tính thứ bậc, tính phục tùng của các hệ thống thuộc các trình độ khác nhau.
Hệ thống không phải đơn giản là sự tập hợp các yếu tố. Giữa các yếu tố của hệ thống có các mối quan hệ - các mối liên hệ đặc biệt.
Hệ thống có càng nhiều yếu tố và các mối liên hệ giữa các yếu tố đó càng phong phú, đa dạng và sâu sắc thì hệ thống đó càng phức tạp hơn.
Hệ thống như vậy đòi hỏi phải cân nhắc cả cơ cấu (ngoại hình của các mối liên hệ) và các chức năng (thực chất và nội dung của các mối liên hệ) của nó. Ở đây điều có ý nghĩa quan trọng không phải chỉ là xác định được các thuộc tính, các biểu hiện và các nguồn lực như thế nào của chính sách pháp luật, mà còn phải xác định rõ các thuộc tính, các biểu hiện và các nguồn lực đó được gắn kết vói nhau như thế nào, đem đến hiệu quả phối họp như thế nào. Đó là khía cạnh cơ cấu chức năng và có thể được gọi là công thức. Hiện nay, trong nghiên cứu khoa học thường nói về cơ cấu khi nhâh mạnh đến sự hiện có các mối liên hệ giữa các yếu tố, bao gồm các mối liên hệ chức năng, tức là các mối liên hệ chỉ ra sự phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố.
Tuy vậy, tổ chức hệ thống không chỉ bao hàm bộ phận hoặc cơ cấu ổn định vững chắc của nó. Cơ cấu có thể có một khối lượng các trạng thái tùy nghi, đến lượt mình, các trạng thái đó làm thay đổi các chức năng được kết hợp vói bộ phận ổn định vững chắc đó. Bộ phận biến số như vậy của tổ chức hệ thống là chương trình của nó. Chương trình được quyết định không chỉ bởi tổng thể các trạng thái có thể có của hệ thống, tức là bởi tính chỉnh thể, tính thống nhất của nó. Mọi hệ thống phức tạp không chỉ hoạt động theo công thức thuật giải nghiêm khắc mà còn sử dụng cả chương trình linh hoạt, tức là có sự tổ chức của nó. Trong trường hợp này, không phải cơ cấu và chức năng quyết định sự vận hành (hoạt động) và sự phát triêh của toàn bộ hệ thống, mà là tính chinh thể, tính hệ thống (chương trình) của hệ thống quyết định sự thay đổi các trạng thái của cơ cấu và của các chức năng cụ thể. Sự vận động và sự phát triêh của hệ thống dưới dạng các trạng thái liên tục của nó thường được gọi là quá trình.
5. Biểu hiện của hoạt động hệ thống
Chính trong sự tác động lẫn nhau với môi trường, hoạt động của hệ thống được biểu hiện ra. Hoạt động đó có thể là:
- Hoạt động phản ứng, khi đó yếu tố quyết định duy nhất là môi trường;
- Hoạt động thích nghi, tức là hoạt động phù hợp với môi trường từ phía hoạt động;
- Hoạt động tích cực, nếu như hệ thống có mục đích cải thiện môi trường. Tuy vậy, mỗi loại hoạt động của hệ thống được xác định hoàn toàn không phải tùy tiện, mà nó được quy định bởi các thuộc tính bên trong của nó và tính chất của các mối liên hệ giữa các yếu tố.
Sự tác động lẫn nhau của hệ thống và môi trường tùy thuộc vào việc hệ thống đó là hệ thông đóng hay là hệ thống mở. Nguyên tắc cơ bản của việc đánh giá tính mở/tính đóng của hệ thống thể hiện ở chỗ, hệ thống mở thực hiện những hoạt động có sự tương tác lẫn nhau hoặc trao đổi với môi trường, còn hệ thống đóng không thực hiện những hoạt động có sự tương tác lẫn nhau hoặc không trao đổi với môi trường. Hệ thống đóng là trường họp riêng của hệ thống mở. Logic của mối quan hệ lẫn nhau của chúng không chỉ quy về sự đối kháng trực tuyến của nó. Hệ thống đóng, trước hết, chỉ là một trạng thái đặc biệt, trạng thái đặc thù về mặt tự nhiên của hệ thống mở (mối quan hệ của hệ thống đóng với môi trường là không có, bởi vì hệ thống đóng, về lý tưởng, đang ngừng tồn tại với tư cách là hệ thống đúng nghĩa của nó, bởi vì, ở hệ thống đó môi trường tự biến mất).
Từng hệ thống mở, về hiện thực, trong tiến trình phát triển của mình có thể bị đóng, giảm thiểu sự tương tác của mình với môi trường đến mức tối thiểu. Và ngược lại, mọi hệ thống ở trạng thái đóng sớm hay muộn cũng cần phải được mở, bởi vì, trong tiêm năng của nó, tất yếu, đang chứa đựng tính mở. Vân dề là ở chỗ, làm thế nào để giải phóng được tiềm năng đó.
Nếu như hệ thống đóng là trường hợp tồn tại riêng của hệ thống mở, thì hoàn toàn lôgic đặt ra vấn đề là khi nào và trong những điều kiện như thế nào hệ thống mở có thể bị đóng. Câu trả lời hoàn toàn rõ ràng ở đây là khi hệ thống mở đạt được sự cân bằng lý tưởng với môi trường, khi diễn biến của hệ thống không được thực hiện và các thông số tĩnh của nó được xác định. Nói cách khác, các đặc điểm nhất định của hệ thống được khẳng định khi bảo đảm một cách vững chắc rằng, các ảnh hưởng của môi trường không làm mất tính ổn định của chúng.
Các kết luận mang tính quan điểm của lý luận chung về hệ thống có thể được gọi là "chìa khóa vàng được sử dụng để nhận thức thế giới hoặc là đỉnh cao của thiết kế xã hội loài người". Đồng thời, các luận điểm đó được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học khác nhau hiện nay, đã trở thành nền tảng của những thay đổi về chất mang tính nguyên tắc trong soạn thảo, phân tích và đánh giá các tài liệu thực nghiệm, đã mở ra con đường cho việc áp dụng các công nghệ thông tin mói và mở rộng một cách cơ bản các khả năng so sánh mọi khách thể được nghiên cứu, trong đó có chính sách pháp luật.
6. Những luận điểm áp dụng cách tiếp cận hệ thống
Như vậy, từ việc phân tích trên cho thấy, việc áp dụng cách tiếp cận hệ thống dựa trên ba luận điểm quan trọng nhất sau đây:
- Từng khách thể được khoa học nghiên cứu thể hiện với tư cách là một chỉnh thể, thống nhất nào đó - hệ thống có cấu trúc nhất định, trong đó tính chỉnh thổ, tính thống nhất đó không phải là tổng số đơn giản các yếu tố cấu thành nó;
- Hệ thống có các quá trình ổn định đặc trưng cho nó và các quá trình điều chỉnh được lặp lại;
- Hệ thống tương tác với môi trường bên ngoài của mình.
Những luận điểm nêu trên là những luận điểm trung tâm mang tính chất phương pháp luận cho việc nhận thức mọi hệ thống, trong đó có hệ thống chính sách pháp luật.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).