Luật Công ty năm 1990 là văn bản luật chứa đựng có hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về những điều kiện và trình tự thành lập, đăng kí kinh doanh, tổ chức và hoạt động, giải thể, phá sản với hai loại hình công ti chủ yếu là công ti trách nhiệm hữu hạn và công tỉ cổ phần.

Luật công ti được Quốc hội Khoá VIII, kì họp thứ 8 thông qua ngày 21.12.1990, có hiệu lực từ ngày 45.4.1991, được Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ Š sửa đổi, bổ sung một số điều ngày 22. 6.1994.

Đối tượng điều chỉnh của Luật là địa vị pháp lí của hai loại hình công ti: công tỉ trách nhiệm hữu hạn và công tỉ cổ phần. Ngoài việc quy định chung về quyền và nghĩa vụ, những điều kiện và thủ tục thành lập, đăng kí kinh doanh, giải thể, phá sản,

Luật công ti còn quy định các dấu hiệu cơ bản để phân biệt hai loại hình công tỉ trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần; về quy chế thành viên; tổ chức và quản lí, về chế độ góp vốn và chế độ tài chính trong từng loại hình công ti nói trên xử với lí do người lao động gia nhập, hoạt động công đoàn.

Luật công đoàn năm 1990 quy định rõ quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong các cơ

Phạm vi điều chỉnh: ngoài việc quy định về công ti trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần, Luật công ti đã ghi nhận các nguyên tắc cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường là: tự do kinh doanh, tự do giao lưu kinh tế; Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp, lợi ích chính đáng của các nhà kinh doanh; Nhà nước công nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của chủ thể kinh doanh, thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của mọi loại hình doanh nghiệp.

Hoàn cảnh ra đời: Đại hội Đẳng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) mở ra thời kì đổi mới toàn diện đất nước, trước hết có sự đổi mới về cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lí kinh tế, chuyển nền kinh tế nước ta sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, nhiều chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước ta cũng có sự thay đổi phù hợp. Trong bối cảnh đó, ngày 21.12.1990, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật công ti. Luật công ti ra đời bước đầu đã tạo cơ sở pháp lí cần thiết cho sự phát triển một loại hình doanh nghiệp mới, đó là công ti, tạo điều kiện thuận lợi cho những người có tài sản đầu tư vào kinh doanh, thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các tầng lớp dân cư vào kinh doanh; là cơ sở pháp lí cho các hoạt động liên kết, hợp tác kinh doanh trên nhiều phương diện khác nhau của nền kinh tế.

Bố cục và nội dung cơ bản: Luật công ti gồm 46 điều, được chia thành 6 chương, mỗi chương đều có tên gọi phản ánh nội dung của chương và các điều luật quy định trong chương đó. Chương Ì - Những quy định chung, gồm 13 điều, quy định về điều kiện của các chủ thể có quyền góp vốn đầu tư tham gia thành lập các loại hình công ti; quy định quyền của các thành viên khi tham gia công ti; chế độ góp vốn; quy mô và phạm vi kinh doanh của công ti; nghĩa vụ của công ti trong quá trình hoạt động kinh doanh; những ngành nghề không được kinh doanh... Chương II có 11 điều, quy định về thủ tục, trình tự, điều kiện thành lập, đăng kí kinh doanh, giải thể, phá sản công ti. Trình tự, thủ tục phá sản công ti thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản. Chương IIl gồm 5 điều, quy định về tổ chức và hoạt động của công ti trách nhiệm hữu hạn trong đó quy định cụ thể về chế độ góp vốn, đặt tên công ti, quá trình hoạt động, các trường hợp gọi thêm vốn hoặc kết nạp thêm thành viên mới. Chương IV có 14 điều, quy định về tổ chức và hoạt động của công ti cổ phần, troD1ã đó có các quy định riêng về thành lập công ti cổ phần, quy chế phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vai trò của đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, hoạt động của các kiểm soát viên công ti... Chương V gồm 2 điều, quy định về xử lí vi phạm những trường hợp không thực hiện đúng hoặc cố tình làm trái quy định của Luật công ti. Chương VI - Điều khoản thi hành. Nhìn chung, mặc dù được ra đời trong giai đoạn đầu phát triển về kinh tế thị trường ở Việt Nam, song về cơ bản, Luật công ti với các quy định nền tảng có nhiều điểm tương đồng với pháp luật về công ti của một số nước trên thế giới... Tuy nhiên, ở các nước, công ti còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự hoặc Luật thương mại, một số hoạt động của công ti còn phải công khai trên công báo.

Luật công tí năm 1990 ở Việt Nam có hiệu lực đến năm 1999 thì được thay thế bởi Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình gần 10 năm tổn tại, nó đã góp phần to lớn vào việc phát triển loại hình công ti cổ phần và công ti trách nhiệm hữu hạn (gần 20 nghìn công ti được thành lập và hoạt động trên phạm vi cả nước), thúc đẩy quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế nhất định của đất nước.