Luật thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đạo luật quy định việc thu thuế đối với tổ chức, cá nhân chuyển quyền sử dụng đất, được Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ 5 thông qua ngày 22.6.1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.1994.

Mục tiêu của việc ban hành Luật là tăng cường quản lí nhà nước về đất đai, khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả, động viên vào ngân sách nhà nước một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là quan hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân chuyển quyền sử dụng đất. Luật gồm Lời nói đầu, 7 chương với 24 điều và có những nội dung cơ bản sau: 1) Quy định đối tượng nộp thuế, các đối tượng không thuộc diện nộp thuế; 2) Quy định căn cứ tính thuế, kê khai, nộp thuế, 3) Quy định miễn thuế, giảm thuế; 4) Quy định về xử lí vi phạm, khen thưởng; 5) Quy định về khiếu nại và thời hiệu giải quyết tranh chấp thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Điều 1 và Điều 2 xác định rõ tuy tên Luật là Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất nhưng không phải tất cả các trường hợp chuyển quyền sử dụng đất thì đều phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Nguyên tắc chung là: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất thì phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Điều 1 quy định “đất có nhà và vật kiến trúc trên đó" thì phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tuy vậy, không phải tất cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất một cách hợp pháp đều phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, mà có một số trường hợp không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Cụ thể là có 6 trường hợp: 1) Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo quy định của pháp luật; 2) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trả lại đất được giao cho Nhà nước hoặc Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; 3) Chuyển quyền sử dụng đất cho người được thừa kế; 4) Người trong hộ gia đình chuyển quyền sử dụng đất cho nhau khi tách hộ, vợ, chồng chuyển quyền sử dụng đất cho nhau khi li hôn; 5) Tổ chức, cá nhân có đăng kí kinh doanh bất động sản thuộc đối tượng nộp thuế doanh thu và thuế lợi tức; 6) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cho thuê đất thuộc đối tượng nộp thuế doanh thu và thuế lợi tức (Điều 2). Căn cứ tính thuế này là: diện tích đất, giá đất tính thuế và thuế suất (Điều 5).

Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994 là văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam quy định về thuế chuyển quyền sử dụng đất. Thực tế thi hành Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất cho thấy, thuế suất áp dụng có sự phân biệt lớn giữa các loại đất và phụ thuộc vào mục đích chuyển nhượng (mức thấp nhất là 5%, mức cao nhất là 40%), mức thu quá cao, không có sự phân biệt giữa hoạt động kinh doanh với hoạt động chuyển quyền sử dụng đất mang tính chất phi kinh doanh... là bất hợp lí. Những hạn chế này của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994 từng bước được khắc phục trong các đạo luật sửa đổi, bổ sung được ban hành về sau (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất ngày 21.12.1999).