1. Tranh chấp thương mại quốc tế (International Commercial Dispute)

Tranh chấp thương mại quốc tế - danh từ, trong tiếng Anh được dùng bởi cụm từ International Commercial Dispute.

Tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu thuẫn phát sinh khi một trong các bên vi phạm, hay nói cách khác là không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình trong hoạt động thương mại quốc tế.

 

2. Các loại vi phạm trong tranh chấp thương mại quốc tế

Trong thương mại quốc tế có hai loại vi phạm nghĩa vụ:

 

2.1. Vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương

Chủ thể của các loại vi phạm này chỉ có thể là các quốc gia với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế. Những tranh chấp phát sinh từ loại vi phạm này được giải quyết bằng những hình thức và thủ tục hoàn toàn không giống nhau. 

Khi vi phạm nghĩa vụ được qui định trong các hiệp định thương mại song phương thì tranh chấp sẽ được giải quyết ở tòa án hay trọng tài. Khi tranh chấp phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ được qui định trong Hiệp định thương mại khu vực thì tranh chấp sẽ được cơ quan tài phán về Thương mại của khu vực đó giải quyết.

 

2.2. Vi phạm liên quan đến việc kí kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại cụ thể

Tranh chấp thương mại phát sinh là do không thực hiện hay thực hiện không đúng như hợp đồng trong hoạt động thương mại. Như vậy có thể nói rằng tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh do một trong các bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình do hợp thương mại quốc tế qui định.

Chủ thể của loại tranh chấp này là các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế không phụ thuộc vào việc các bên là thương nhân hay là nhà nước. 

Trong thực tiễn hoạt động thương mại nói chung, loại vi phạm này được thể hiện ở ba khía cạnh:

- Vi phạm liên quan đến các sự kiện pháp lí;

- Vi phạm liên quan đến việc giải thích hợp đồng hay các vấn đề pháp lí khác;

- Vi phạm liên quan đến cả hai loại trên, ví dụ không có khả năng thực hiện hợp đồng.

 

3. Một số nét chung trong giải quyết tranh chấp ngoại thương bằng trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử. Để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại, hàng hải... ở các nước thường thành lập các tổ chức trọng tài thương mại, trọng tài hàng hải. Trọng tài thương mại thường xét xử các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, hợp đồng đầu tư, hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v... Trọng tài hàng hải thì xét xử các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng lai dắt tàu, hợp đồng cứu hộ... Song ở nước nào chỉ thành lập một tổ chức trọng tài thì tổ chức trọng tài này giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh trong thương mại hàng hải… Ngày nay, với cách hiểu mới về khái niệm thương mại, người ta không phân biệt trọng tài hàng hải hay trọng tài thương mại, mà gọi chung loại hình tổ chức trọng tài này là trọng tài thương mại.

Trọng tài thương mại được thành lập dưới hai hình thức: Trọng tài vụ việc và Trọng tài thường trực.

- Trọng tài vụ việc là loại Trọng tài do hai bên đương sự lập ra để giải quyết một tranh chấp cu thể, sau khi giải quyết xong thì giải tán (Thủ tục thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định tại Điều 41 Trọng tài thương mại năm 2010).

- Trọng tài thường trực (hay còn gọi là Trọng tài quy chế) là loại Trọng tài được thành lập và hoạt động thường xuyên theo một quy chế nhất định.

Hiện nay, ở hầu hết các nước đã có Trọng tài thường trực. Chẳng hạn, ở Nhật Bản có Hiệp hội Trọng tài thương mại Nhật Bản, ở Hồng Kông có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông, ở Thái Lan có úy ban Trọng tài thương mại Thái Lan, ở Anh có Tòa án Trọng tài Quốc tế Luân Đôn, ở Việt Nam có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội, Trung tâm Trọng tài thương mại Á châu v.v... Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kình tế quốc tế như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng đầu tư, du lịch quốc tế, hợp đồng vận tải và bảo hiểm quốc tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v... Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam được thành lập năm 1993, là kết quả của việc tô chức lại, hợp nhất hai Hội đồng Trọng tài là Hội đồng Trọng tài ngoại thương (được thành lập năm 1964) và Hội đồng Trọng tài hàng hải Việt Nam (được thành lập năm 1961).

Điều 3 khoản 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó”.

Xu hướng chung hiện nay là các bên đương sự thường giao tranh chấp cho Trọng tài thương mại xét xử, vì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với việc xét xử của Tòa thương mại có những điểm lợi thế như:

- Thủ tục kiện ra trọng tài đơn giản

- Tranh chấp được giải quyết không công khai do đó đảm bảo bí mật kinh doanh.      

- Các trọng tài viên tinh thông nghiệp vụ về thương mại nên giải quyết nhanh, kết quả xét xử có thể thỏa đáng, hợp lý.

- Các trọng tài viên thường có thế mạnh là có thể sử dụng ngoại ngữ để giải quyết tranh chấp.

- Thời gian giải quyết tranh chấp không dài.

- Phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm cho nên không phải đi kiện theo thủ tục phúc thẩm.       

   

4. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) là gì ?

Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) là tổ chức trọng tài phi chính phủ đặt cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 204/TTg ngày 28.4.1993 của Thủ tướng chính phủ trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải.

Thẩm quyền của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam:

+ Trung tâm trọng lài quốc tế Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế nếu trước hay sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đương sự thoả thuận đưa vụ việc ra trước trung tâm hoặc nếu có điều ước quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh chấp ra trước trung tâm.

+ Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có chủ tịch và hai phó chủ tịch do các trọng tài viên của trung tâm bầu ra với nhiệm kì 4 năm. Chủ tịch chỉ định một thư kí thường trực của trung tâm. Trung tâm có các trọng tài viên là những người có kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực kinh tế và pháp luật do Ban thường trực Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam chọn với nhiệm kì 4 năm. Sau mỗi nhiệm kì, các trọng tài viên có thể được chọn lại. Chuyên gia nước ngoài có thể được mời làm trọng xs$ tài viên của trung tâm.

 

5. Một số lưu ý khi giải quyết tranh chấp bởi Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

(1)     Địa vị pháp lý của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)

Kể từ ngày 01/01/2011, địa vị pháp lý của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) được quy định bởi Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010 và Quy tắc Tố tụng Trọng tài của VIAC (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012).

Việc giải quyết các tranh chấp về thương mại có yếu tố nước ngoài (tranh chấp liên quan đêh ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tranh chấp liên quan đến các hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đưdng biển, các hợp đồng bảo hiểm hàng hóa XNK v.v...) sẽ được quy định và điều chỉnh bồi Quy tắc tố tụng của VIAC (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012).

VIAC là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. VIAC được lập chi nhánh, vãn phòng đại diện của mình ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

VIAC có Ban điều hành và các trọng tài viên. Ban điều hành gồm có Chủ tịch, các Phó chủ tịch. Ban điều hành cử Chủ tịch sau khi tham khảo ý kiến của Ban Thường trực Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Nhiệm kỳ của Chủ tịch và các Phó chủ tịch là 5 năm.

Những người được VIAC chọn làm trọng tài viên phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 20 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và tại Điều 14 của Quy tắc tố tụng của VIAC năm 2012. Đó là:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự;

- Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;

- Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên;

- Những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:

a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;

b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.

(2) Thẩm quyền xét xử của VIAC

- VIAC có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại giữa các bên là tổ chức, cá nhân kinh doanh trong trường hợp các bên có thỏa thuận trọng tài bằng văn bản chọn VIAC để giải quyết tranh chấp.

Thỏa thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản. Thỏa thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài cũng được coi là thỏa thuận trọng tài bằng văn bản (Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010).

- VIAC có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài khi các bên có thỏa thuận trọng tài bằng văn bản.

Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là “tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại, quan hệ pháp luật khác có yếu tố nước ngoài được quy định tại Bộ luật Dân sự” (Điều 3 khoản 4 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

- Việc giải quyết tranh chấp tại VIAC được tiến hành theo Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC năm 2012.

(3) Vấn đề thẩm quyền của thẩm quyền trọng tài

Vấn đề thẩm quyền của thẩm quyền được đặt ra khi có những vấn đề phát sinh liên quan đến việc xem xét thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài đã được thành lập dựa trên một thỏa thuận trọng tài đã tồn tại.

Điều 26 khoản 1 Quy tắc tố tụng Trọng tài của VIAC năm 2012 quy định rằng: “Hội đồng trọng tài có thẩm quyển quyết định về thẩm quyển của chính mình, cho dù có phản đốì về sự tồn tại hoặc hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Vì vậy, một điều khoản trọng tài là một phần của hợp đồng được coi là một thỏa thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng. Quyết định của Hội đồng trọng tài rằng hợp đồng vô hiệu không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài”.

Vấn đề thẩm quyền của thẩm quyền, cũng tức là vấn đề thẩm quyển của Hội đồng trọng tài khi xem xét về thẩm quyền của chính mình, tiếp tục được nêu rõ tại khoản 2 Điều 26 Quy tắc tố tụng của VIAC năm 2012: “Trước khi xem xét nội dung của vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình cho dù có hay không có khiếu nại của một bên về vấn đề này. Trong trường hợp Hội đồng trọng tài cho rằng thỏa thuận trọng tài có tồn tại, thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp. Trong trường hợp Hội đồng trọng tài cho rằng thỏa thuận trọng tài không tồn tại hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp”.

(4) Tham gia tố tụng trọng tài

Các bên có thể tham gia trực tiếp hoặc ủy quyền cho đại diện tham gia tố tụng trọng tài. Trong trường hợp có sự ủy quyền thì việc ủy quyền phải được lập bằng văn bản, nêu rõ nội dung, phạm vi, thời hạn ủy quyền và thông báo cho VIAC biết.

Trong vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, bị đơn có thể chọn một trọng tài viên có tên trong hoặc ngoài Danh sách trọng tài viên hoặc yêu cầu Chủ tịch VIAC chỉ định một trọng tài viên cho mình. Nếu chọn trọng tài viên ngoài Danh sách trọng tài viên, bị đơn phải thông báo cho VIAC họ tên và địa chỉ liên lạc của trọng tài viên mà bị đơn chọn. Trường hợp bị đơn yêu cầu Chủ tịch VIAC chỉ định trọng tài viên, Chủ tịch VIAC sẽ chỉ định một trọng tài viên có tên trong Danh sách trọng tài viên (Điều 11 Quy tắc tố tụng Trọng tài của VIAC năm 2012).

(5)  Căn cứ pháp lý để giải quyết nội dung tranh chấp

Đốì với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài giải quyết nội dung vụ tranh chấp căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng, vào luật áp dụng do các bên lựa chọn, vào các điều ưởc quốc tế có liên quan và có tính đến các tập quán thương mại quốc tế. Trong trường hợp các bên không chọn hoặc không thông nhất được việc chọn luật áp dụng thì Hội đồng Trọng tài quyết định chọn luật áp dụng mà Hội đồng Trọng tài cho là phù hợp (Điều 22 Quy tắc tố tụng của VIAC năm 2012).

(6) Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trồng quá trình giải quyết tranh chấp, nếu thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiêp bị xâm hại, các bên có quyền gửi đơn đến Hội đồng trọng tài yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật (Điều 19 Quy tắc tố tụng của VIAC năm 2012).

Theo quy định tại Điều 19 Quy tắc tố tụng của VIAC năm 2012 và Điều 49 khoản 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trọng tài có quyền áp dụng sáu biện pháp khẩn cấp tạm thòi sau đây:

1)  Cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp;

2) Cấm hoặc buộc bất kỳ bên tranh chấp nào thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định nhằm ngăn ngừa các hành vi ảnh hưởng bất lợi đến tố tụng trọng tài;

3) Kê biên tài sản tranh chấp;

4) Yêu cầu bảo tồn, cất trữ, bán hoặc định đoạt bất kỳ tài sản nào của một bên hoặc các bên tranh chấp;

5) Yêu cầu tạm thời về việc trả tiền giữa các bên;

6) Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.

(7)  Vấn đề hủy phán quyết trọng tài

Theo yêu cầu của một bên, tòa án có quyền xem xét vấn đề hủy phán quyết trọng tài.

Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định phán quyết của trọng tài có thể bị hủy nếu thuộc một trong năm trường hợp dưới đây:

a)   Không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;

b)  Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái vói các quy định của Luật này;

c) Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung không thuộc thẩm quyển của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;

d) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;

đ) Phán quyết trọng tài trái vói các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Quyền và nghĩa vụ của bên đề nghị hủy phán quyết trọng tài, thẩm quyền của tòa án trong việc hủy quyết định của trọng tài, thủ tục hủy phán quyết trọng tài... được quy định tại chương 6, các điều từ Điều 68 đến Điều 72 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

(8)  Hiệu lực của phán quyết trọng tài

Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, có hiệu lực kể từ ngày công bô. Các bên phải thi hành phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật.

Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài, nếu một bên không tự nguyện thi hành, cũng không yêu cầu hủy phán quyết thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành phán quyết trọng tài.

Trình tự, thủ tục và thời hạn thi hành phán quyết trọng tài được áp dụng theo quy định của pháp luật vể thi hành án dân sự (Điểu 67 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

 

6. Câu hỏi thường gặp về tranh chấp bằng trọng tài

6.1 Luật áp dụng trong tố tụng trọng tài là gì?

Luật áp dụng trong tố tụng trọng tài là luật dùng để điều chỉnh hoạt động của trọng tài trong quá trình xét xử tranh chấp giữa các bên trong giao dịch thương mại quốc tế.

Quy định về luật áp dụng trong tố tụng trọng tài:

Trong hoạt động thương mại quốc tế, luật áp dụng cho tố tụng trọng tài thương mại quốc tế được xác định dựa trên cơ sở thoả thuận của các bên tranh chấp hoặc dựa vào luật của nước nơi trọng tài tiến hành xét xử.

Luật được cơ quan xét xử dùng để giải quyết tranh chấp giữa các bên đương sự trong giao dịch thương mại quốc tế.

 

6.2 Quy định về phán quyết trọng tài?

Phán quyết của trọng tài được thể hiện dưới hình thức văn bản và có nội dung cơ bản:

1) Địa điểm và ngày ra phán quyết;

2) Tên của trung tâm trọng tài;

3) Họ tên các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất;

4) Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn;

5) Tóm tắt đơn kiện và các vấn đề tranh chấp;

6) Cơ sở để ra phân quyết của trọng tài;

7) Quyết định về vụ tranh chấp, quyết định về phí trọng tài và các phí khác;

8) Thời hạn thi hành phán quyết trọng tài;

9) Chữ kí của các trọng tài viên hoặc của trọng tài viên duy nhất.

Phán quyết của trọng tài là chung thẩm, không thể kháng cáo trước bất kì toà án, tổ chức nào; các bên phải tự nguyện thi hành trong thời hạn quy định trong phán quyết. Bên không thi hành phán quyết trọng tài có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.

 

6.3 Nguyên tắc công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam?

Việc thừa nhận và cho phép thi hành tại Việt Nam quyết định trọng tài có thể được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam và quyết định của trọng tài được tuyên tại lãnh thổ Việt Nam nhưng không do trọng tài Việt Nam tuyên, theo những nguyên tắc và trình tự pháp lí nhất định.

Tòa án Việt Nam xem xét việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tại nước ngoài trong trường hợp quyết định được tuyên tại nước hoặc của trọng tài của nước mà Việt Nam và nước đó đã kí kết hoặc tham gia điều ước quốc tế về vấn đề này.

Quyết định của trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại.

Quyết định của trọng tài nước ngoài được thi hành tại Việt Nam sau khi được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.

Tổ chức, cá nhân được thi hành, người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài nếu tổ chức phải thi hành có trụ sở tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc nếu tài sản liên quan đến việc thi hành có tại Việt Nam.

Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức phải thi hành đóng trụ sở chính, nơi cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan.

 

6.4 Những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài?

Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

- Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa

thuận đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội.

- Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật

- Các bên tranh chấp đều hình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.