1. Tranh chấp thương mại quốc tế (International Commercial Dispute)

Tranh chấp thương mại quốc tế - danh từ, trong tiếng Anh được dùng bởi cụm từ International Commercial Dispute.

Tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu thuẫn phát sinh khi một trong các bên vi phạm, hay nói cách khác là không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình trong hoạt động thương mại quốc tế.

 

2. Các loại vi phạm trong tranh chấp thương mại quốc tế

Trong thương mại quốc tế có hai loại vi phạm nghĩa vụ:

 

2.1. Vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương

Chủ thể của các loại vi phạm này chỉ có thể là các quốc gia với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế. Những tranh chấp phát sinh từ loại vi phạm này được giải quyết bằng những hình thức và thủ tục hoàn toàn không giống nhau. 

Khi vi phạm nghĩa vụ được qui định trong các hiệp định thương mại song phương thì tranh chấp sẽ được giải quyết ở tòa án hay trọng tài. Khi tranh chấp phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ được qui định trong Hiệp định thương mại khu vực thì tranh chấp sẽ được cơ quan tài phán về Thương mại của khu vực đó giải quyết.

 

2.2. Vi pham liên quan đến việc kí kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại cụ thể

Tranh chấp thương mại phát sinh là do không thực hiện hay thực hiện không đúng như hợp đồng trong hoạt động thương mại. Như vậy có thể nói rằng tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh do một trong các bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình do hợp thương mại quốc tế qui định.

Chủ thể của loại tranh chấp này là các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế không phụ thuộc vào việc các bên là thương nhân hay là nhà nước. 

Trong thực tiễn hoạt động thương mại nói chung, loại vi phạm này được thể hiện ở ba khía cạnh:

- Vi phạm liên quan đến các sự kiện pháp lí;

- Vi phạm liên quan đến việc giải thích hợp đồng hay các vấn đề pháp lí khác;

- Vi phạm liên quan đến cả hai loại trên, ví dụ không có khả năng thực hiện hợp đồng.

 

3. Thủ tục khởi kiện

Việc giải quyết các tranh chấp trong ngoại thương còn được tiến hành bằng cách kiện ra Toà án hoặc Trọng tài thương mại. Người có quyền lợi bị vi phạm sau khi thương lượng không thành công (hoặc bỏ qua bước thương lượng) có thể đi kiện ra Tòa án hay Trọng tài thương mại để nhờ Tòa án, Trọng tài đó xét xử tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình. Từ đó có thể gọi đó là phương pháp giải quyết tranh chấp bằng xét xử tại Tòa án hay Trọng tài thương mại. Điều này cũng có nghĩa là đây là hai phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán.

Cùng là phương thức giải quyết mang tính tài phán, giải quyết tranh chấp bằng việc khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài vừa có những điểm chung vừa có những điểm khác nhau. Điểm chung trước hết thể hiện ở thủ tục.

Về thủ tục đi kiện, dù kiện ra Toá án hay Trọng tài thì nguyên đơn, người khởi kiện, phải chuẩn bị hồ sơ kiện.

- Hồ sơ kiện

Hồ sơ kiện tới Tòa án hay Trọng tài thương mại gồm đơn kiện và các chứng từ làm bằng chứng.

Đơn kiện phải làm bằng văn bản. Nội dung đơn kiện thường theo đúng quy định của luật tố tụng nước Tòa án hoặc theo quy tắc tố tụng của Trọng tài thương mại. Nhìn chung đơn kiện phải bao gồm các nội dung như: tên, địa chỉ của Tòa án hoặc Trọng tài, địa chỉ đầy đủ của bên đi kiện và bên bị kiện, trình bày nội dung kiện, căn cứ pháp lý của vụ kiện, giá vụ kiện và yêu cầu của bên đi kiện đề nghị giải quyết. Tùy theo luật tố tụng của từng nước hoặc quy tắc tố tụng của từng Trọng tài thương mại mà có những quy định cụ thể, chi tiết trong đơn kiện.

Chẳng hạn, đơn khởi kiện ra Hiệp hội Trọng tài thương mại Nhật Bản gồm các chi tiết:

+ Tến đầy đủ và địa chỉ của bên nguyên và bên bị, nếu cử đại diện phải ghi rõ tên và địa chỉ của người đại diện.

+ Nội dung yêu cầu giải quyết.

+ Lý do yêu cầu giải quyết và bằng chứng.

Đơn yêu cầu Tòa án trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế phải bao gồm các nôi dung sau:

+ Họ tên đầy đủ, nghề nghiệp, địa chỉ của bên nguyên, bên bị. Nội dung tranh chấp.

+ Hợp đồng và các văn bản thỏa thuận giữa hai bên, đặc biệt là thỏa thuận về trọng tài, các tài liệu xác lập rõ ràng chi tiết vụ tranh chấp.

Tài liệu liên quan về số lượng trọng tài viên và lựa chọn trọng tài viên.

Đơn kiên ra Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Viêt Nam phải ghi rõ các nội dung sau:

+ Tến và địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn.

+ Các yêu cầu của nguyên đơn, có trình bày sự việc và kèm theo bằng chứng.

+ Những căn cứ pháp lý dựa vào đó để kiện, trị giá vụ kiện. Tến trọng tài viên mà nguyên đơn chọn trong Danh sách trọng tài viên của Trung tâm, hoặc đề nghị của nguyên đơn với chủ tịch Trung tâm chỉ định trọng tài viên cho mình.

+ Chứng từ làm bằng chứng kèm theo đơn kiện là toàn bộ các chứng từ có trong bộ hổ sơ khiếu nại. Ngoài ra còn có thêm các chứng từ về việc giải quyết khiếu nại giữa các bên nhưng không đạt kết quả, và các bằng chứng mới.

- Muốn được thụ lý để đưa ra xét xử, nguyên đơn phải nộp một số tiền nhất định gọi là chi phí hành chính phải nộp trước một phần hay toàn bộ lệ phí trọng tài tùy theo quy định trong Quy tắc tố tụng của các tổ chức trọng tài. Chẳng hạn, Tòa án trọng tài quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế khi nhận hồ sơ kiện thu 2.000 USD trả trước chi phí hành chính, còn lệ phí trọng tài sẽ được ấn định khi xét xử tranh chấp. Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) thụ lý đơn kiện khi nguyên đơn ứng trước tòa trọng tài theo quy định của Biểu phí trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Napa.

 

4. Thời hiệu khởi kiện

Về thủ tục đi kiện, dù kiện ra Tòa án hay Trọng tài thì nguyên đơn người khởi kiện phải tuân thủ thời hiệu khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện (hay còn gọi là thời hiệu tố tụng) là khoảng thời gian do pháp luật quy định cho bên có quyền lợi bị vi phạm đi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài, nếu bỏ qua thời hiệu khởi kiện mối đi kiện thì đơn kiện sẽ bị bác.

Thời hiệu khởi kiện được quy định trong điều ước quốc tế. Chẳng hạn theo Công ước Hamburg 1978 thời hiệu khỗi kiện người chuyên chở là 2 năm kể từ ngày đã giao toàn bộ hàng cho người nhận hàng (Điều 20).

Thời hiệu khởi kiện cũng được quy định trong luât quốc gia của các nước.         

Ví dụ, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là 2 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp

Luật Thương mại Việt Nam năm 2015 quy định rằng thời hiệu khởi kiện áp dụng cho tất cả các tranh chấp thương mại, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Riêng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, thời hiệu khởi kiện là 9 tháng kể từ ngày giao hàng, sau khi bị khiếu nại.

Như vậy, nếu hợp đồng không do điều ước quốc tế điều chỉnh mà do luật của một nước điểu chỉnh thì nguyên đơn, bên đi kiện, phải tuân thủ đúng thời hiệu khởi kiện được quy định trong luật của nước đó.

 

5. Luật áp dụng

Dù kiện ra Toá án hay Trọng tài thì nguyên đơn - người khởi kiện và bị đơn - người bị kiện, thậm chí cả Tòa án hoặc Trọng tài cũng phải nghiên cứu về vấn đề luật áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Để giải quyết tranh chấp phát sinh, những quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp thường là luật của nưởc có Tòa án hoặc Trọng tài. Những quy định này thường được gọi là “luật hình thức”, Luật hình thức thường giải quyết những vấn đề như lệ phí tỏa án, địa điểm xét xử, ngôn ngữ dùng tại phiên xét xử, sự hiện diện bắt buộc của các bên, sự hiện diện của luật sư...

Để giải quyết nội dung tranh chấp, Tòa án và Trọng tài phải áp dụng “luật nội dung”. Luật nội dung, còn gọi là luật thực chất hay luật áp dụng, là những quy định của hợp đồng. Nếu hợp đồng không quy định thì phải dựa vào luật áp dụng mà các bên đã thống nhất lựa chọn. Luật áp dụng này có thể là luật trong nước cũng có thể là luât nước ngoài.

Luật nội dung cũng có thể là điều ưdc quốc tế hoặc tập quán thương mại quốc tế (Điều 14 Khoản 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010) điều này cho thấy tính phức tạp của việc giải quyết tranh chấp trong ngoại thương vì các bên tranh chấp đến từ các nước khác nhau.

 

6. Giải quyết tranh chấp trong ngoại thương bằng toà án

Tòa án là cơ quan tư pháp của một nước được thành lập để xét xử các tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân của nước đó. Song, Tòa án cũng có thể xét xử tranh chấp phát sinh trong ngoại thương.

Tòa án của bất kỳ nước nào cũng khồng có thẩm quyền đương nhiên đối với các tranh chấp phát sinh trong ngoại thương. Tòa án chí có thẩm quyên xét xử khi các bên đương sự thỏa thuận thông nhất giao tranh chấp cho Tòa án xét xử. Các bên đương sự chỉ được thỏa thuận giao tranh chấp cho Tòa án xét xử bằng một điểu khoản của hợp đồng (hoặc bằng một văn bản riêng) khi trong điều ước quốc tế có liên quan không quy định giao tranh chấp cho Trọng tài thương mại giải quyêt. Mặt khác, thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các tranh chấp trong ngoại thương cũng có thể được quy định trong điều ưóc quổc tế. Do vậy, muốn biết kiện tới Tòa án của nước nào phải căn cứ vào hợp đồng, văn bản thỏa thuận giữa hai bên, vào điều ước quốc tế đang có hiệu lực trong quan hệ giữa hai nước tương ứng.

Tòa án của bất kỳ nước nào cũng chỉ tuân thủ luật tố tụng của nước mình, nghĩa là nhận đơn kiện, chuẩn bị xét xử, tiến hành xét xử theo đúng luật tố tụng của nưởc tòa án. Còn khi giải quyết tranh chấp Tòa án phải áp dụng luật thực chất điều chỉnh hợp đồng.

Tại phiên họp xét xử bên nguyên, bên bị phải có mặt để bảo vệ quyền lợi của mình bị đơn có quyền nhờ luật sư bào chữa. Nếu bên thua kiện không đồng ý với bản án của Tòa án thì có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên theo thủ tục phúc thẩm.

Ở Việt Nam việc giải quyết tranh chấp trong ngoại thương thuộc thẩm quyển của Tòa Kinh tế thuộc Tòa án Nhân dân Tối cao. Doanh nghiệp Việt Nam có thê thỏa thuận với bên nước ngoài đưa tranh chấp ra xét xử tại Tòa án Kinh tế Việt Nam. Nhưng chú ý, nếu quy định thì phải quy định cụ thể Tòa án Kinh tế nào, ví dụ, Tòa án kinh tế thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Thủ tục giải quyết tranh chấp về ngoại thương tại Toà án Kinh tế của Việt Nam được quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

 

7. Câu hỏi thường gặp về giải quyết tranh chấp trọng tài

7.1 Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là gì?

Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài gồm:

- Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài.

- Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.

Khi đã có đủ các điều kiện để giải quyết tranh chấp bằng TTTM như có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực… thì các bên thực hiện các bước theo trình tự tố tụng trọng tài.

- Nộp đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo

- Bị đơn nộp bản tự bảo vệ (theo Điều 35 Luật TTTM 2010)

- Thành lập Hội đồng trọng tài

- Hòa giải (theo Điều 58 Luật TTTM 2010)

- Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp (theo Điều 55 Luật TTTM 2010)

- Hội đồng trọng tài ra phán quyết

Ưu điểm của cơ quan trọng tài là tính bảo mật thông tin cao cũng như tính linh động, tiết kiệm thời gian thực hiện thủ tục tố tụng cho các bên.

 

7.2 Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức hòa giải là gì?

Giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải

Hòa giải là các bên tranh chấp thông qua bên trung gian (Hòa giải viên/ trung tâm hòa giải) cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đã thỏa thuận qua hòa giải.

 

7.3 Bản chất của tranh chấp thương mại?

Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ cụ thể. Mâu thuẫn được hiểu là trạng thái xung đột, đối xứng nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tranh chấp. Quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được nhũng mục đích đề ra. Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu.

Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên. Thông thường, những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong các mối quan hệ cụ thể bao gồm:

+ Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn kĩ thuật; vận chuyên hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác.

+ Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

+ Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

+ Tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.

 

7.4 Phân loại các tranh chấp về thương mại?

Dựa trên những căn cứ pháp lý khác nhau, tranh chấp thương mại được chia thành các loại tranh chấp sau:

- Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại bao gồm tranh chấp thương mại trong nước và tranh chấp thương mại quốc tế.

- Căn cứ vào số lượng các bên tranh chấp: tranh chấp thương mại bao gồm tranh chấp thương mại hai bên và tranh chấp thương mại nhiều bên.

- Căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp: tranh chấp thương mại gồm tranh chấp liên quan đến hợp đồng, tranh chấp về sở hữu trí tuệ, đâu tư, tài chính...

- Căn cứ vào quá trình thực hiện: tranh chấp thương mại bao gồm các tranh chấp trong quá trình đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng và tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.

- Căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp: tranh chấp thương mại bao gồm: tranh chấp thương mại hiện tại và tranh chấp thuơng mại trong tương lai.

 

7.5 Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp thương mại?

Tranh chấp thương mại đã trở thành một hiện tượng tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường. Khi tranh chấp thương mại phát sinh đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách minh bạch và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỉ cương xã hội. Giải quyết các tranh chấp thương mại cần đáp ứng các yêu cầu chủ yếu sau:

- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh, thương mại.

- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh, thương mại.

- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên.

- Kinh tế nhất (ít tốn kém nhất).