- 1. Tranh chấp thương mại quốc tế (International Commercial Dispute)
- 2. Các loại vi phạm trong tranh chấp thương mại quốc tế
- 2.1. Vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương
- 2.2. Vi phạm liên quan đến việc kí kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại cụ thể
- 3. Một số nét chung trong giải quyết tranh chấp ngoại thương bằng trọng tài thương mại
- 4. Thẩm quyền xét xử của trọng tài thương mại
- 5. Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại
1. Tranh chấp thương mại quốc tế (International Commercial Dispute)
Tranh chấp thương mại quốc tế - danh từ, trong tiếng Anh được dùng bởi cụm từ International Commercial Dispute.
Tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu thuẫn phát sinh khi một trong các bên vi phạm, hay nói cách khác là không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình trong hoạt động thương mại quốc tế.
2. Các loại vi phạm trong tranh chấp thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế có hai loại vi phạm nghĩa vụ:
2.1. Vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương
Chủ thể của các loại vi phạm này chỉ có thể là các quốc gia với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế. Những tranh chấp phát sinh từ loại vi phạm này được giải quyết bằng những hình thức và thủ tục hoàn toàn không giống nhau.
Khi vi phạm nghĩa vụ được qui định trong các hiệp định thương mại song phương thì tranh chấp sẽ được giải quyết ở tòa án hay trọng tài. Khi tranh chấp phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ được qui định trong Hiệp định thương mại khu vực thì tranh chấp sẽ được cơ quan tài phán về Thương mại của khu vực đó giải quyết.
2.2. Vi phạm liên quan đến việc kí kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại cụ thể
Tranh chấp thương mại phát sinh là do không thực hiện hay thực hiện không đúng như hợp đồng trong hoạt động thương mại. Như vậy có thể nói rằng tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh do một trong các bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình do hợp thương mại quốc tế qui định.
Chủ thể của loại tranh chấp này là các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế không phụ thuộc vào việc các bên là thương nhân hay là nhà nước.
Trong thực tiễn hoạt động thương mại nói chung, loại vi phạm này được thể hiện ở ba khía cạnh:
- Vi phạm liên quan đến các sự kiện pháp lí;
- Vi phạm liên quan đến việc giải thích hợp đồng hay các vấn đề pháp lí khác;
- Vi phạm liên quan đến cả hai loại trên, ví dụ không có khả năng thực hiện hợp đồng.
3. Một số nét chung trong giải quyết tranh chấp ngoại thương bằng trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử. Để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại, hàng hải... ở các nước thường thành lập các tổ chức trọng tài thương mại, trọng tài hàng hải. Trọng tài thương mại thường xét xử các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, hợp đồng đầu tư, hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v... Trọng tài hàng hải thì xét xử các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng lai dắt tàu, hợp đồng cứu hộ... Song ở nước nào chỉ thành lập một tổ chức trọng tài thì tổ chức trọng tài này giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh trong thương mại hàng hải… Ngày nay, với cách hiểu mới về khái niệm thương mại, người ta không phân biệt trọng tài hàng hải hay trọng tài thương mại, mà gọi chung loại hình tổ chức trọng tài này là trọng tài thương mại.
Trọng tài thương mại được thành lập dưới hai hình thức: Trọng tài vụ việc và Trọng tài thường trực.
- Trọng tài vụ việc là loại Trọng tài do hai bên đương sự lập ra để giải quyết một tranh chấp cu thể, sau khi giải quyết xong thì giải tán (Thủ tục thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định tại Điều 41 Trọng tài thương mại năm 2010).
- Trọng tài thường trực (hay còn gọi là Trọng tài quy chế) là loại Trọng tài được thành lập và hoạt động thường xuyên theo một quy chế nhất định.
Hiện nay, ở hầu hết các nước đã có Trọng tài thường trực. Chẳng hạn, ở Nhật Bản có Hiệp hội Trọng tài thương mại Nhật Bản, ở Hồng Kông có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông, ở Thái Lan có úy ban Trọng tài thương mại Thái Lan, ở Anh có Tòa án Trọng tài Quốc tế Luân Đôn, ở Việt Nam có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội, Trung tâm Trọng tài thương mại Á châu v.v... Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kình tế quốc tế như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng đầu tư, du lịch quốc tế, hợp đồng vận tải và bảo hiểm quốc tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v... Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam được thành lập năm 1993, là kết quả của việc tô chức lại, hợp nhất hai Hội đồng Trọng tài là Hội đồng Trọng tài ngoại thương (được thành lập năm 1964) và Hội đồng Trọng tài hàng hải Việt Nam (được thành lập năm 1961).
Điều 3 khoản 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó”.
Xu hướng chung hiện nay là các bên đương sự thường giao tranh chấp cho Trọng tài thương mại xét xử, vì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với việc xét xử của Tòa thương mại có những điểm lợi thế như:
- Thủ tục kiện ra trọng tài đơn giản
- Tranh chấp được giải quyết không công khai do đó đảm bảo bí mật kinh doanh.
- Các trọng tài viên tinh thông nghiệp vụ về thương mại nên giải quyết nhanh, kết quả xét xử có thể thỏa đáng, hợp lý.
- Các trọng tài viên thường có thế mạnh là có thể sử dụng ngoại ngữ để giải quyết tranh chấp.
- Thời gian giải quyết tranh chấp không dài.
- Phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm cho nên không phải đi kiện theo thủ tục phúc thẩm.
4. Thẩm quyền xét xử của trọng tài thương mại
- Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu các bên có thỏa thuận trọng tài
Trọng tài thương mại ở các nước được thành lập ra để xét xử các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, kể cả hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, đối với một tranh chấp cụ thể thì Trọng tài thương mại không có thẩm quyền đương nhiên. Trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên đương sự thông nhất thỏa thuận giao tranh chấp cho Trọng tài giải quyết. Thỏa thuận đó được gọi là thỏa thuận trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh (Điều 3 khoản 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).
Việc giao tranh chấp cho Trọng tài xét xử, tức là thỏa thuận trọng tài, trưốc hết được quy định trong hợp đồng. Lúc ký hợp đồng các bên thỏa thuận điều khoản về trọng tài, trong đó quy định trọng tài nào sẽ giải quyết tranh chấp phát sinh sau này.
Nếu trong hợp đồng không có điều khoản về thỏa thuận trọng tài thì trong quá trình thực hiện hơp đồng các bên có thể thỏa thuận giao tranh chấp một trọng tài cụ thể nào đó giảị quyết.
Việc giao tranh chấp cho Trọng tài thương mại xét xử cũng có thể được quy định trong các điều ước quốc tế hữu quan, hoặc trong luật quốc gia.
Ví dụ, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010 quy định rằng tranh chấp được giải quyết bằng trong tài nếu các bên có thỏa thuận Trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp (Điều 5 khoản 1).
Như vậy, thẩm quyển xét xử của Trọng tài thương mại đối với các tranh chấp cụ thể trong ngoại thương được quy định trong hợp đồng, trong một văn bản thỏa thuận riêng về trọng tài do các bên ký, hoặc trong điều ước quốc tế hữu quan hay trong luật quốc gia. Đặc biệt, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 khẳng định rằng Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
Cần lưu ý về hình thức của thỏa thuận trọng tài.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, tại Điều 16, rằng thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưối hình thức thỏa thuận riêng. Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Điều 16 khoản 2 của Luật liệt kê những hình dưối đây cũng được coi là văn bản:
a) Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.
- Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thương mại.
Hoạt động thương mại, được quy định tại Điều 3 khoản 1 của Luật Thương mại năm 2005, là "hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo đó, tại Điều 2 quy định rằng trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dưới đây:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.
Như vậy, theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài dựa trên thỏa thuận trọng thi giha các bên và tranh chấp về thương mại theo quy định của pháp luật.
5. Thi hành phán quyết của trọng tài thương mại
Do phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm nên nó ràng buộc các bên và bên thua kiện phải có nghĩa vụ thi hành phán quyết.
Trong thực tế, nhiều phán quyết của trọng tài nước ngoài được các bên đương sự tự nguyện thi hành, song cũng có khi bên thua kiện trì hoãn thi hành hoặc cố tình không thi hành phán quyết. Trong trường hợp đó, bên thắng kiện phải thông qua Tòa án tác động đến bên thua kiện để đảm bảo cho phán quyết của Trọng tài được thi hành. Bên thắng kiện phải làm đơn yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài kèm theo phán quyết đó gửi tới Tòa án của nước bên thua kiên để nhò Tòa án can thiệt cho phán quyết được thi hành. Tòa án nước bên thua kiện sẽ xem xét đơn yêu cầu đó và có thể ra mệnh lệnh thi hành phán quyết của Trọng tài gửi cho bên thua kiện .để bên này thi hành nếu bên thua kiện vẫn không thi hành phán quyết thì sẽ áp dụng thu tục cưởng chế thi hành. Khi xem xét để ra mệnh lệnh thi hành phán quyết trọng tài, Tòa án dựa vào điều ước quốc tế có liên quan giữa hai nước, hoặc dựa vào luật của nước mình khi, chưa có điều ước quốc tế có liên quan.
Hiện nay, nhiều, nước đã ký kết hoặc phê chuẩn các điều ước quốc tê về Trọng tài thương mại và việc thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại, nhất là việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Đó là Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, Công ước châu Âu năm 1961 về Trọng tài thương mại...
Ngoài ra, việc thi hành phán quyết của Trọng tài còn được quy định trong hiệp ước thương mại hàng hải, hiệp định thương mại.
Nhìn chung trong các điều ước quốc tế nêu trên đểu quy định rằng các nước ký kết phải đảm bảo công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại nước ngoài (nước ngoài trong trường hợp này được hiểu là nước ký kết hay gia nhập điều ước quốc tế). Nhưng một nước ký kết sẽ từ chối thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại nưởc ngoài trong các trường hợp sau:
- Khi một bên đương sự vắng mặt tại phiên họp xét xử của Trọng tài do sơ suất của Trọng tài.
- Khi phán quyết của Trọng tài chưa có giá trị chung thẩm xét theo luật của nước trọng tài.
- Khi phán quyết của Trọng tài buộc bên thua kiện phải làm một hành động không được phép làm theo luật của nước mà ở đó phán quyết phải được thi hành.
- Khi việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với trật tự công cộng của nước mà ở đó phán quyết phải được thi hành.
Chẳng hạn, theo Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì mỗi nước ký kết phải công nhận phán quyết của Trọng tài thuộc nước ký kết kia là bắt buộc và phải cho thi hành phán quyết ấy phù hợp với luật to' tụng dân sự của nước trong đó yêu cầu phải công nhận và cho thi hành phán quyết (Điều IV). Đồng thời Công ước này cũng quy định những trường hợp từ chôì công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ký kết kia (tức trọng tài nước ngoài), đó là:
+ Các bên ký kẹt hiệp nghị (thỏa thuận) trọng tài trong một chừng mực nào đó không có năng lực hành vi, hoặc là hiệp nghị trọng tài không có hiệu lực theo luật mà các bên bắt trọng tài phải tuân thủ, còn khi thiếu chỉ dẫn luật này thì theo luật của nước trong đó phán quyết được đưa ra.
+ Khi bên đương sự bị phán quyết đưa ra chông lại (bên thua kiện) không được thông báo một cách hợp lệ về việc chỉ định trọng tài viên, về việc xét xử của Trọng tài, hay vì một lý do khách quan nào đó không thể trình bày được ý kiến của mình.
+ Phán quyết của Trọng tài đưa ra về một tranh chấp không được quy định hay không thuộc diện quy định của hiệp nghị trọng tài hay của điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là trong phán quyết đó có những điều quyết định về những vấn đề không thuộc phạm vi của hiệp nghị trọng tài. Nhưng nếu có những điều quyết định về những vấn đê' nằm trong phạm vi của hiệp nghị trọng tài tách riêng khỏi các điều quyết định về những vấn đê' không nằm trong phạm vi của hiệp nghị trọng tài thì những điều quyết định trong phạm vi hiệp nghị trọng tài có thể được công nhận và cho thi hành.
+ Nếu thành phần của ban trọng tài hoặc quá trình tố tụng không phù hợp với thỏa thuận (hiệp nghị) trọng tài của các bên đương sự, còn khi thiếu thỏa thuận đó - không phù hợp với luật của nước trọng tài.
+ Nếu phán quyết của Trọng tài chưa có giá trị chung thẩm hoặc đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước trọng tài hoặc của nước có luật đem áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.
Những trường hợp nêu trên bên thua kiện có nghĩa vụ chứng minh
trước cơ quan có thẩm quyền của nước công nhận và cho thi hành phán quyết.
Ngoài những trường hợp nêu trên, Điều 5 Công ước còn quy định rằng có thể từ chối và cho thi hành phán quyết của Trọng tài thuộc nước ký kết kia nếu cơ quaiỵ có thẩm quyền của nưởc công nhận và cho thi hành phán quyết đó thấy rằng khách thể của tranh chấp chiếu theo luật của nước này không phải là đối tượng của việc xét xử bằng trọng tài, hoặc là việc công nhận và cho thi hành phán quyết trái với trật tự công cộng của nước đó.
Ngày 28/7/1995, Việt Nam đã gia nhập công ước New York 1958. Khi gia nhập Công ước này, Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuyên bố: Công ước chỉ áp dụng đối với việc cộng nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyêt định (phán quyết) của Trọng tài tại lãnh thổ của quốc gia là thành viên của Công ước. Sẽ chỉ áp dụng Công ước đối với những tranh chấp trong lĩnh vực pháp luật thương mại.
Khi giữa hai nưởc hữu quan chưa có điều ước quốc tế điều chỉnh việc thi hành phán quyết của Trọng tài được tuyên ở nước này nhưng phải được thi hành ở nước kia thì Tòa án phải căn cứ vào luật của nước mình để xem xét có ra mệnh lệnh thi hành hay không, về nguyên tắc luật của các nước đều cho phép công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nhưng cũng quy định những trường hợp từ chối cho thi hành đó là:
- Khi thành phần Ban trọng tài xét xử không đúng với quy định trong hiệp định trọng tài giữa các bên.
- Khi phán quyết của Trọng tài chưa có giá trị chung thẩm xét theo luật của nước trọng tài.
- Khi việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài trái với trật tự công cộng của nước thi hành phán quyết v.v...
Ở Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài (tức phán quyết của Trọng tài nước ngoài) ngày 14/9/1995.
Theo Pháp lệnh này Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài trong các trường hợp sau:
- Những quyết định được tuyên tại nước hoặc của Trọng tài của
nước mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc tham gia điều ước quôc tế về vấn đề này.
- Quyết định của Trọng tài nước ngoài của những nước mà Việt Nam chưa ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế nhưng trên cơ sở có đi có lại.
Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi tổ chức phải thi hành có trụ sở chính, cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành.
Quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và các bên đương sự phảỉ nghiêm chỉnh thi hành. Nếu tổ chức, cá nhân phải thi hành không tự nguyện thi hành quyết định đó thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đồng thời, Pháp lệnh cũng quy định những căn cứ từ chối công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài (Điều 16). Những căn cứ này cũng tương tự như những trường hợp từ chối công nhận và cho thi hành phán quyết cua Trọng tai nước ngoài được quy định trong Công ước New York 1958 nêu trên.