- 1. Đặc điểm mạng lưới sông ngòi nước ta
- 1.1. Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, chằng chịt, nhiều nước nhưng ít sông lớn
- 1.2. Lượng nước trên hệ thống sông ngòi của nước ta thay đổi theo mùa (mùa nước, mùa cạn)
- 1.3. Sông ngòi của nước ta có nhiều phù sa
- 1.4. Sông ngòi nước ta chảy theo hai hướng chính: Tây Bắc - Đông Nam và hướng vòng cung
- 2. Giá trị sông ngòi Việt Nam
- 3. Những vấn nạn về sông ngòi Việt Nam và giải pháp đề ra.
1. Đặc điểm mạng lưới sông ngòi nước ta
Hệ thống sông ngòi nước ta mang một số đặc điểm chính:
1.1. Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, chằng chịt, nhiều nước nhưng ít sông lớn
Theo thống kê tính đến thời điểm hiện tại, mạng lưới sông ngòi ở Việt Nam lên tới 41900 km. Tổng cộng có khoảng 2350 con sông có chiều dài trên 10 km. Trong đó có 109 con sông chính, 93% là các con sông nhỏ và ngắn. Còn các sông lớn như sông Hồng, Sông Cửu Long chỉ là phần nhỏ và là hạ lưu sông lớn xuyên qua biên giới chảy qua lãnh thổ nước ta, tạo nên các vùng đồng bằng châu thổ lớn và phì nhiêu, đây cũng chính là hai vựa lúa lớn nhất cả. Do đó mà Việt Nam cũng không có toàn quyền kiểm soát và quản lý chúng. Điều này dẫn đến tình hình phức tạp hơn do với nguồn nước từ các hệ thống sông bắt nguồn từ trong nước. Việt Nam có tất cả 112 cửa sông đổ ra biển, cứ 23 km lại có một cửa sông. Hệ thống 16 lưu vực sông lớn với diện tích trung bình trên 2500 km² và chiếm 9/16 lưu vực có diện tích 10000 km². Bao gồm các con sông như: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Thu Bồn, sông Mê Kông.
1.2. Lượng nước trên hệ thống sông ngòi của nước ta thay đổi theo mùa (mùa nước, mùa cạn)
Chịu ảnh hưởng của nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu nước ta có hai mùa mưa và khô phân hóa rõ rệt. Tuy nhiên, thời gian mưa giữa các vùng miền, khu vực có sự khác nhau, thường chậm dần từ Bắc vào Nam. Như mùa mưa ở miền Bắc thường tập trung vào những tháng hè từ tháng 7 đến tháng 9. Trong khi đó mùa mưa lũ đỉnh điểm của miền Trung thường rơi vào tháng 11 đến tháng 12.
Sự chênh lệch lượng mưa giữa 2 mùa khá rõ rệt. Vào mùa lũ, thường kéo dài từ 4 - 5 tháng, nước sông chiếm 60 - 90% lưu lượng cả năm, còn mùa cạn thường kéo dài 7 tháng chỉ chiếm khoảng 20 - 30%. Tháng đỉnh lũ chiếm từ 25 - 30% lưu lượng nước cả năm, còn những tháng kiệt lũ thì lưu lượng nước chỉ còn 1 - 2% lưu lượng cả năm. Tình trạng sông bị cạn trơ đáy có thể bắt gặp phổ biến vào mùa khô. Ví dụ sông Hồng chênh lệch mùa nước lũ gấp 4 lần mùa cạn, nước dâng lên rất nhanh có thể gây lũ đột ngột; trong khi đó sông Cửu Long chênh lệch nước 2 mùa là gấp 7 lần.
Ngoài lượng nước mưa, thì lượng nước sông ngòi nước ta còn có được do kết hợp với nguồn nước chảy từ bên ngoài vào. Theo các thống kê gần đây, tổng lượng nước trung bình khoảng hơn 800 tỷ m³/s. Trong đó nước sinh ra trên lãnh thổ chiếm gần 40%, còn lại là lượng nước chảy từ bên ngoài vào nước ta.
1.3. Sông ngòi của nước ta có nhiều phù sa
3/4 địa hình nước ta là đồi núi, sông ngòi nước ta chảy trên địa hình đồi núi dốc. Các sông đều bắt nguồn từ những ngọn núi cao, vì thế sông ở thượng lưu thường rất dốc tạo thành dòng chảy siết, quanh co, uốn khúc tạo ra hiện tượng xâm thực mạnh vì vậy tạo ra hàm lượng phù sa rất lớn, trung bình khoảng 226 tấn/km²/ năm. Với tổng lượng phù sa đạt trung bình 200 triệu tấn/ năm. Trong đó sông Mê Kông đóng góp 70 triệu tấn/ năm; sông Hồng là 120 triệu tấn/ năm. Còn lại là những sông khác.
Việc sông ngòi nước ta có nhiều phù sa còn do nhiều nơi có sự suy giảm độ bao phủ của rừng, những nơi đó độ đục của sông có thể lên tới 600 - 700g/m³. Những nơi có nhiều núi đá vôi, ít phù sa hơn, độ đục chỉ còn khoảng 70g/m³.
1.4. Sông ngòi nước ta chảy theo hai hướng chính: Tây Bắc - Đông Nam và hướng vòng cung
Địa hình, đặc biệt hướng núi có ảnh hưởng rất lớn tới hướng chảy của các dòng sông ở Việt Nam. Địa hình đồi núi chủ yếu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nên các con sông cũng có hướng Tây Bắc - Đông Nam. Chẳng hạn như sông Hồng, sông Đà, sông Cả, sông Mã.... Những con sông chảy hướng vòng cung thường xuất hiện chủ yếu ở vùng Đông Bắc như sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu.... Ngoài ra, sông chảy theo hướng Tây sang Đông có sông Thu Bồn.
2. Giá trị sông ngòi Việt Nam
Sông ngòi từ xa xưa đã là nguồn sinh sống chính của ông cha ta. Dựa trên những đặc điểm riêng của hệ thống sông ngòi Việt Nam mà chúng ta đã mang đến những giá trị không hề nhỏ.
- Sông ngòi là nguồn cung cấp nước ngọt quý giá cho đời sống con người và các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Hệ thống sông ngòi dày đặc cũng tạo lợi thế lớn để phát triển hệ thông giao thông, buôn bán đường thủy như chợ nổi Cái Răng trên sông Cần Thơ.
- Ngoài ra sông ngòi còn có tác động lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân như nông nghiệp: hàng năm hệ thông sông ngòi đã bồi tụ cho đồng bằng châu thổ một hệ thống phù sa phì nhiêu và màu mỡ. Ngoài ra đây còn là nguồn nước chính phục vụ cho công tác tưới tiêu phục vụ phát triển nông nghiệp.
- Ngư nghiệp tạo lợi thế khai thác thủy hải sản vùng sông, suối mang lại giá trị kinh tế cao. Sông ngòi còn tạo ra sự đa dạng sinh học nước ngọt.
- Công nghiệp đóng góp phần không hề nhỏ trong việc phát triển ngành công nghiệp năng lượng nước ta, đặc biệt là thủy điện với hệ thống nhà máy thủy điện sông Đà, thủy điện Sơn La.
- Dịch vụ: sống ngòi là nguông tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị lớn nếu biết khai thác đúng cách.
3. Những vấn nạn về sông ngòi Việt Nam và giải pháp đề ra.
Sông ngòi có giá trị như thế, song hiện nay tình hình sông ngòi nước ta đang bị ô nhiễm nặng nề, cụ thể:
- Hệ thống rừng cây bị chặt phá nhiều, nước mưa và bùn cát dồn xuống dòng sông, gây ra những trận lũ đột ngột và dữ dội.
- Nước xả thải công nghiệp, sinh hoạt, các hóa chất nông nghiệp độc hại cũng là tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước và trữ lượng nước ngầm ngày càng giảm do khai thác quá mức và thiếu sự quản lý ở một số khu vực.
- Biến đổi khí hậu dẫn đến một số hiện tượng thời tiết cực đoan, chẳng hạn như hạn hán ở các vùng có lượng mưa lớn và xâm nhập mặn do mực nước biển dâng cao. Điều này đã làm suy giảm chất lượng và số lượng nước ở Việt Nam. Nguồn nước trở nên khan hiếm và cạn kiệt, đặc biệt là vào mùa khô, các ao hồ cạn nước.
Để đặc điểm sông ngòi Việt Nam không bị mai một. Là một người dân Việt Nam, chung ta cần nhận thức rõ vấn đề, chung tay hành động và kêu gọi mọi người:
- Không đốt, chặt phá rừng bừa bãi
- Không vứt các chất thải chưa được xử lý trực tiếp xuống nguồn nước
- Khải xử lý chất thải từ các khu đô thị lớn bao gồm cả nước thải sinh hoạt và nước thải từ các khu công nghiệp và chế xuất.
- Cần tích cực trong việc phòng chống thiên tai và lũ lụt
- Khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả và hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
>> Tham khảo: So sánh địa hình vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc? Địa lý lớp 8
Trên đây là bài viết cung cấp những thông tin về Mạng lưới sông ngòi ở Việt Nam có những đặc điểm gì? do công ty Luật Minh Khuê nghiên cứu và tổng hợp. Hy vọng bài viết có những nội dung hữu ích đối với bạn đọc. Luật Minh Khuê chân thành quý bạn đọc đã ưu tiên đón đọc những nội dung do chúng tôi cung cấp .