1. Mẫu đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng

 

(Tên đơn vị đề nghị điều chỉnh thông tinngân hàng)
---------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số:

...., ngày .... tháng .... năm ....

ĐỀ NGHỊ ĐIỀU CHỈNH THÔNG TIN NGÂN HÀNG

Kính gửi: Cục Công nghệ tin học - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Căn cứ Thông tư số ... của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Quy định về hệ thng mã ngân hàng dùng trong hoạt động, nghiệp vụ ngân hàng.

(Tên đơn vị đề nghị điều chnh thông tin ngân hàng)............................... kính đề nghị Cục Công nghệ tin học điều chỉnh thông tin ngân hàng cho các đơn vị sau:

1- (Tên đơn vị được đề nghị điều chỉnh 1) - (Mã ngân hàng)

STT

Thông tin điều chỉnh

Thông tin cũ

Thông tin mới

1

 

 

 

2

 

 

 

...

 

 

 

Hồ sơ kèm theo bao gồm: .................................................................................................

2- (Tên đơn vị được đề nghị điều chỉnh 2) - (Mã ngân hàng)

STT

Thông tin điều chỉnh

Thông tin cũ

Thông tin mới

1

 

 

 

2

 

 

 

...

 

 

 

Hồ sơ kèm theo bao gồm: .............................................................................................

Trân trọng cảm ơn.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu.

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
(Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

 

 

2. Quy định pháp luật về điều chỉnh thông tin ngân hàng

Theo quy định tại Điều 11 Thông tư 17/2015/TT-NHNN Quy định về hệ thống mã ngân hàng dùng trong hoạt động, nghiệp vụ ngân hàng - được quy định như sau:

- Đối với các đơn vị Ngân hàng Nhà nước, khi có thay đổi thông tin ngân hàng quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư này, trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi thông tin ngân hàng, đơn vị có văn bản đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng gửi Cục Công nghệ tin học qua mạng theo mẫu Phụ lục 03.

- Đối với các tổ chức tín dụng (trừ quỹ tín dụng nhân dân), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, khi có thay đổi thông tin ngân hàng quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư này, trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi thông tin ngân hàng, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện lập 01 bộ hồ sơ điều chỉnh thông tin ngân hàng gửi đến Cục Công nghệ tin học qua mạng, hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng theo mẫu Phụ lục 03;

b) Bản chụp văn bản chấp thuận thay đổi thông tin đối với các thông tin quy định tại Điểm a, b, d, đ Khoản 1 Điều 8.

- Đối với quỹ tín dụng nhân dân, khi có thay đổi thông tin ngân hàng quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư này, trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi thông tin ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố thực hiện lập 01 bộ hồ sơ điều chỉnh thông tin ngân hàng gửi đến Cục Công nghệ tin học qua mạng, hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng theo mẫu Phụ lục 03;

b) Bản chụp văn bản chấp thuận thay đổi thông tin đối với các thông tin quy định tại Điểm a, b, d, đ Khoản 1 Điều 8.

- Đối với Kho bạc Nhà nước các cấp, khi có thay đổi thông tin ngân hàng quy định tại Khoản 1 Điều 8 Thông tư này, trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi thông tin ngân hàng, Kho bạc Nhà nước thực hiện lập 01 bộ hồ sơ điều chỉnh thông tin ngân hàng gửi đến Cục Công nghệ tin học qua mạng, hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng theo mẫu Phụ lục 03;

b) Bản chụp văn bản chấp thuận thay đổi thông tin của cấp có thẩm quyền đối với các thông tin quy định tại Điểm a, b, d, đ Khoản 1 Điều 8.

- Đối với các tổ chức khác có hoạt động báo cáo, trao đổi dữ liệu điện tử liên quan đến Ngân hàng Nhà nước, khi có nhu cầu điều chỉnh thông tin ngân hàng, đơn vị thực hiện lập 01 bộ hồ sơ điều chỉnh thông tin ngân hàng gửi đến Cục Công nghệ tin học qua mạng, hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng theo mẫu Phụ lục 03;

b) Bản chụp văn bản chấp thuận thay đổi thông tin của cấp có thẩm quyền đối với các thông tin quy định tại Điểm a, b, d, đ Khoản 1 Điều 8.

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị hợp lệ, Cục Công nghệ tin học thực hiện điều chỉnh thông tin ngân hàng và thông báo kết quả qua mạng cho đơn vị đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng. Trường hợp từ chối điều chỉnh thông tin ngân hàng, Cục Công nghệ tin học thông báo qua mạng cho đơn vị đề nghị điều chỉnh thông tin ngân hàng và nêu rõ lý do.

- Cục Công nghệ tin học chủ động rà soát, điều chỉnh thông tin ngân hàng đối với các tổ chức khác đã được cấp mã ngân hàng theo Khoản 6, Khoản 8 Điều 9 Thông tư này và thông báo cho các đơn vị liên quan.

 

3. Đơn giản hóa thủ tục điều chỉnh thông tin ngân hàng như thế nào?

Về nội dung đơn giản hóa các thủ tục điều chỉnh thông tin ngân hàng được quy định tại Tiểu mục 95 Mục III Phần A Phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành kèm theo Nghị quyết 60/NQ-CP năm 2010, nội dung  đơn giản hóa các thủ tục điều chỉnh thông tin ngân hàng như sau:

Các thủ tục điều chỉnh thông tin ngân hàng:

- Điều chỉnh thông tin ngân hàng của đối tượng được cấp mã ngân hàng (B-NHA-001672-TT);

- Điều chỉnh thông tin ngân hàng khi Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở có sự thay đổi (B-NHA-032449-TT);

Quy định nộp hồ sơ trực tiếp gửi hồ sơ qua bưu điện hoặc gửi qua mạng internet đến NHNN Việt Nam (Cục Công nghệ tin học).

 

4. Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành ngân hàng như thế nào?

Có thể nói, nghiên cứu của Capgemini vào năm 2016 đã chỉ ra một cách đầy đủ các hướng ứng dụng công nghệ thông tin của hệ thống ngân hàng toàn cầu trong hiện tại và tương lai gần. Đó cũng chính là những chuyển biến đang diễn ra trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Mười xu hướng chi tiết mà Capgemini (2016) chỉ ra về sự chuyển động của công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng thế giới chúng ta có thể tóm lược ở những ý chính như sau:

- Sự chuyển động của công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng thế giới là sự gia nhập của các công ty fintech, trở thành đối thủ, đồng thời cũng là đối tác của các ngân hàng thương mại trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng áp dụng công nghệ cao cho khách hàng. Bằng lợi thế về công nghệ, cộng với sự đầu tư mạnh mẽ (theo KPMG, trong quý 1/2018, đầu tư toàn cầu vào các công ty fintech đã lên đến 57,9 tỷ đô la Mỹ với 875 thương vụ), các công ty fintech đang dần trở nên quen thuộc với khách hàng chủ yếu thông qua dịch vụ cho vay P2P (kết nối trực tuyến người đi vay với người cho vay) và dịch vụ thanh toán. Fintech đang trở thành một từ khóa “hot” trên phạm vi Việt Nam và cả trên toàn cầu.

- Là việc gia tăng sử dụng công nghệ đám mây đối với các dịch vụ cốt lõi để thay thế cho công nghệ lưu trữ truyền thống. Xu hướng này đã trở nên rõ ràng trong ngành ngân hàng thế giới những năm gần đây, giúp các ngân hàng thương mại tiết kiệm được nhiều chi phí, mặt bằng, cũng như tăng cường tính bảo mật trong việc lưu trữ và quản lý dữ liệu.

- Là đầu tư và nâng cấp hệ thống Core banking (phần mềm ngân hàng lõi), công nghệ bảo mật, hệ thống quản lý rủi ro cũng là yêu cầu bắt buộc trong điều kiện các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng, hiện đại trong một môi trường ngày càng bất trắc. Khác với nhiều doanh nghiệp, Core banking là ứng dụng bắt buộc với mỗi ngân hàng, tuy nhiên việc đầu tư này không diễn ra một lần mà phải liên tục được nâng cấp. Hiện thời gian giữa các lần nâng cấp Core banking đang bị rút ngắn bởi sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp, sự gia tăng về khối lượng giao dịch cũng như yêu cầu về ghi nhận dữ liệu phục vụ cho việc tính toán các tỷ lệ an toàn, hay cho việc ra các quyết định quản trị, điều hành của ban lãnh đạo.

- Công nghệ sổ cái (General Ledger - GL) và data mining cùng các phân tích chuyên sâu trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh, chiến lược phát triển dài hạn là một xu hướng rất mới của hệ thống ngân hàng trên thế giới. Đầu tư theo hướng này sẽ giúp các ngân hàng thương mại ghi nhận một cách chi tiết, đầy đủ các dữ liệu mà ngân hàng thương mại muốn có về giao dịch, thói quen, hành vi khách hàng…để qua đó biến các dữ liệu này trở thành nguồn thông tin hữu ích cho ngân hàng trong việc đánh giá, phân tích hành vi của khách hàng nhằm đưa ra các kế hoạch, chiến lược kinh doanh một cách thích hợp, hiệu quả.

- Đối với sự đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng không thể không kể đến mục tiêu gia tăng các tiện ích để nâng cao sức cạnh tranh, thúc đẩy các công nghệ số để  gia tăng các trải nghiệm của khách hàng cũng như thúc đẩy các chương trình tiếp cận khách hàng một cách sâu rộng. Nhờ đó, các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng hóa các dịch vụ theo hướng mang lại cho khách hàng sự trải nghiệm ngày càng mới mẻ, tiện ích và hiện đại.

 

5. Sự chuyển biến áp dụng công nghệ thông tin của Ngân hàng thương mại Việt Nam

Ở Việt Nam, ngoài chỉ tiêu 100% các Ngân hàng thương mại đã triển khai hệ thống Core banking thì các chỉ tiêu khác phản ánh khả năng ứng dụng công nghệ thông tin như quản lý rủi ro chỉ đạt 59,4%, hay chỉ 43,8% ngân hàng đạt chứng chỉ về an toàn thông tin, triển khai hệ thống CRM (Customer Relationship Management) chỉ đạt 53,1%, còn ERP chỉ 50%. Những dịch vụ cơ bản của internet banking (như gửi tiền tiết kiệm online, thanh toán hóa đơn, hay SMS banking) thì nhiều Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn chưa thực hiện được. Điều đó cho thấy mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế.

Đối với đầu tư nâng cấp hệ thống Core banking là nhu cầu đặt ra đối với nhiều Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay nhằm gia tăng tỷ lệ tự động hóa, rút ngắn thời gian thực hiện các giao dịch, mở rộng dịch vụ, mạng lưới, cũng như ghi nhận ngày càng chi tiết các thông tin liên quan đến giao dịch của khách hàng cho mục đích quản trị, điều hành. Trong vòng mấy năm gần đây, nhiều Ngân hàng thương mại đã phải nâng cấp hệ thống Core banking của mình nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển như ACB, TCB (2014), MSB (2016), LVPB, Vietinbank (2017), SCB, Sacombank, ABBank, EIB (2018)…

Đối với đầu tư vào hệ thống bảo mật cũng là một xu hướng bắt buộc của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, phù hợp với xu hướng mà Capgemini (2016) đã chỉ ra, đặc biệt là với hoạt động thẻ, thanh toán trực tuyến. Ngày 31/3/2017, Ngân hàng nhà nước đã có Quyết định số 630/QĐ-NHNN về việc áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng, trong đó từ 01/01/2019 các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trung gian thanh toán trên mạng Internet phải triển khai áp dụng các giải pháp xác thực bảo đảm an toàn tùy theo hạn mức giao dịch, trong đó những giao dịch lớn hơn 100 triệu đồng đã phải dùng các biện pháp có bảo mật cao như Soft OTP, xác thực bằng dấu hiệu nhận dạng sinh trắc học…

Về đầu tư vào công nghệ sổ cái (General Ledger  - GL) cũng được một số Ngân hàng thương mại Việt Nam triển khai như LVPB, Vietinbank, SCB, ACB…nhằm ghi nhận một cách chi tiết các giao dịch (các chiều đơn vị, tài khoản, khách hàng, sản phẩm, phòng ban…) phục vụ cho mục tiêu phân tích đa chiều hiệu quả, thu nhập, chi phí, lợi nhuận… theo yêu cầu quản trị, điều hành. 

 

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).