1. Trích lục bản án là gì?
Bản án hay quyết định của Tòa án là văn bản có mục đích ghi nhận phán quyết trong một vụ án hoặc một vụ việc được gửi tới các đương sự, bị can, bị cáo, bị hại… sau khi kết thúc phiên tòa. Việc ra bản án hay quyết định của Tòa án này sẽ dùng để làm căn cứ thực hiện những nghĩa vụ pháp lý phát sinh trong qúa trình tham gia tố tụng như thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thi hành án hình sự hay nghĩa vụ về dân sự;…
Theo như quy định của pháp luật tố tụng thì trích lục bản án được biết đến là trích, rút ra một phần từ một bản án rồi sao chép lại; phần nội dung của bản án đã được rút ra và sao chép lại. Hay nói theo cách hiểu khác thì trích lục bản án là một phần nội dung bản án mà toà án cấp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ do có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Việc này được thực hiện sau khi tuyên án một thời gian theo luật định, toà án cấp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến. vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ một phần nội dung bản án theo yêu cầu của họ.
Theo những phân tích trên thì người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ do có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ thực hiện việc trích lục bản án nhằm giúp cho những đối tượng nói trên hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của họ sau khi tòa án tuyên để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình hoặc dùng làm căn cứ để kháng cáo. Trích lục chỉ có giá trị pháp lí khi được cơ quan hay người có thẩm quyền chứng thực. Theo quy định của pháp luật, sau khi tuyên án, toà án phải cấp trích lục bản án cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án hoặc đại diện hợp pháp của họ khi những người đó yêu cầu. Ngoài ra, toà án có thể cấp trích lục bản án cho các cơ quan và cá nhân khác nếu họ yêu cầu để có cơ sở giải quyết những công việc có liên quan đến vụ án. Bản trích một số điều trong toàn văn của bản án theo yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ và người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự của vụ án. Những người này cũng có quyền yêu cầu tòa án cấp bản sao toàn văn bản án. Bị cáo, người bào chữa của bị cáo, viện kiểm sát cùng cấp được tòa án cấp bản sao toàn văn bản án. Chậm nhất 15 ngày sau khi tuyên án, tòa án phải cấp bản sao toàn văn hay trích lục toàn văn bản án cho những người đã nêu.
2. Mẫu đơn xin sao lục bản án, quyết định
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Địa danh, ngày ….tháng… năm…….
ĐƠN XIN SAO LỤC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
Kính gửi: Tòa án Nhân dân khu vực ……… Tỉnh/Thành phố ...
Tội tên là: ………… sinh năm: … giới tính:……………………………
Địa chỉ thường trú: ………………………………………………………
Địa chỉ tạm trú: …………………………………………………………
Tôi là (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) ……
……………………………………………………………………………………
trong vụ ………………………… .đã được Tòa án nhân dân
………………… giải quyết tại bản án, quyết định số ………/HSST ngày ……
tháng ……. năm ……………………..........……………………………………
Tôi đề nghị Tòa án cho tôi được sao lục ………..bản án, quyết định nêu trên để tiện việc sử dụng.
| NGƯỜI LÀM ĐƠN | |
| Tài liệu kèm theo: - Bản pho to CCCD; - Ảnh chụp bản án số: .../.../... | (ký tên ghi rõ họ tên)
|
3. Quy định về cấp trích lục bản án; giao, gửi bản án
Điều 269 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về việc cấp trích lục bản án; giao, gửi bản án, cụ thể như sau:
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án.
- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
- Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số liên tiếp.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp sơ thẩm gửi cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án có liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án cho Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật hộ tịch.
Thời hạn niêm yết, công bố, gửi bản án, thông báo quy định tại khoản này là 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ bản án, quyết định của Tòa án có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
3.1 Người có thẩm quyền xin sao lục bản án và quyết định của Tòa án
Người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong các vụ án do Tòa án đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm
Trong thực tế, có nhiều trường hợp đương sự xin trích lục hồ sơ bản án khi cần chứng minh tranh chấp, yêu cầu đã được Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Vậy quyền được cấp trích lục bản án của đương sự được quy định tại Khoản 21 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự và trong thời gian 3 ngày làm việc, kể từ ngày phiên tòa kết thúc, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện sẽ được Tòa án cấp trích lục bản án. Và trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và viện kiểm sát cùng cấp.
Đối với bản án, quyết định phúc thẩm:
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
- Trường hợp Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể dài hơn, nhưng không quá 25 ngày.
=> Như vậy, nếu đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự thì sau khi xét xử sơ thẩm trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải có trách nhiệm gửi bản án, quyết định cho đương sự trong vụ án, nếu đương sự trong vụ án dân sự có kháng cáo thì sau khi xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định cho đương sự trong vụ án. Trong trường sau khi được cấp lần đầu, đương sự có nhu cầu xin cấp lại bản án, quyết định thì đương sự tiến hành thủ tục trích lục tại Tòa án có thẩm quyền. Cụ thể, Tòa án nào đã giải quyết vụ án, vụ việc thì có quyền cấp trích lục bản án, quyết định của vụ án, vụ việc đó.
3.2 Về lệ phí cấp trích lục bản án
Theo quy định tại khoản 4 Điều 143 và Điều 150 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì lệ phí Tòa án có nhiều loại trong đó có lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định của Tòa án. Mức lệ phí này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định. Theo đó, tại Danh mục Lệ phí Tòa án trong Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì khi cá nhân có yêu cầu cấp bản sao giấy tờ, sao chụp tài liệu tại Tòa án thì lệ phí là 1.500 đồng/trang A4.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:
"Điều 143. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí; án phí, lệ phí
4. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định và các giấy tờ khác của Tòa án, lệ phí nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, lệ phí giải quyết việc dân sự và các khoản lệ phí khác mà luật có quy định.
"Điều 150. Quy định cụ thể về án phí, lệ phí
Căn cứ vào quy định của Luật phí và lệ phí và Bộ luật này, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về án phí, lệ phí Tòa án; mức thu án phí, lệ phí Tòa án đối với mỗi loại vụ việc cụ thể; các trường hợp được miễn, giảm hoặc không phải nộp án phí, lệ phí Tòa án; chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án".
Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm cấp bản án, quyết định lần đầu cho các đương sự trong vụ án thì Tòa án không thu lệ phí, trường hợp nếu đã nhận được bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm mà đương sự có nhu cầu xin cấp lại từ lần thứ hai trở đi thì đương sự phải làm đơn nộp tại Tòa án đã xử sơ thẩm, phúc thẩm để xin cấp lại và từ lần thứ hai trở đi khi Tòa án cấp cho đương sự bản sao bản án, quyết định thì đương sự phải có nghĩa vụ nộp lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định với mỗi trang giấy A4 là 1.500đ.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.