1. Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại ?

Tháng 5-2001, ông T và ông L thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại V. Tổng số vốn ban đầu là 1,6 tỷ đồng, trong đó số vốn góp của ông T là 900 triệu đồng. Đến tháng 8-2001, tổng số vốn của công ty thay đổi còn 900 triệu đồng, trong đó phần góp vốn của ông T chì còn 200 triệu đồng.
Ông L khai ông và ông T là bạn, ông T lại có nghiệp vụ kế toán nên ông L mời ông này làm cho công ty. Ông L muốn ông T có vị trí nhất định trong công ty với chức danh Phó Giám đốc kiêm Kế toán trưởng công ty nên ông đã bảo ông T đứng tên trong Hội đồng thành viên công ty mà không cần góp vốn. Vì vậy, ông đã dùng tiền cá nhân để nộp vào phần vốn góp của ông T cho đúng quy định pháp luật là 200.000.000 đồng. Thực tế mọi điều hành, quản lý công ty đều do ông L quyết định.
Bà h (nhân chứng) là nhân viên Công ty ưách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại V từ tháng 8-2003. Đến 17-7-2006 bà xác nhận có đánh máy và ký vào hợp đồng chuyển nhượng vốn giữa ông L, ông T và bà mà không có chữ ký của ông T.
Ngày 14-6-2006, ông T khởi kiện, yêu cầu công nhận phần vốn của ông tại công ty và chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn ông đang nắm giữ tại công ty. Tòa án nhân dân đã chấp nhận yêu cầu của ông T về việc công nhận phần vốn góp trong Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Vvà chia lợi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp.
vẩn đề đặt ra:
Thời điểm xác lập tư cách thành viên là khi nào?

2. Công ty trách nhiệm hũu hạn T?

Theo Quyết định giám đốc thẩm số 10/2010/KDTM-GĐT ngày 10-8-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Công ty Thăng Long có ba thành viên gồm ông Đỗ Quang Bích, bà Lê Thị Hương và bà Đào Thị Năm, do ông Đỗ Quang Bích làm Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc công ty và là người đại diện theo pháp luật của công ty. Từ tháng 2-2007, bà Đào Thị Năm rút khỏi danh sách thành viên công ty. Như vậy, Công ty Thăng Long chỉ còn lại hai thành viên là ông Bích và bà Hương.
Theo đơn khởi kiện ngày 12-7-2007 và lời trình bày của bà Lê Thị Hương, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà Hương khởi kiện ông Đỗ Quang Bích lợi dụng danh nghĩa Giám đốc công ty cố tình chiếm đoạt tài sản của thành viên công ty vái nội dung cho rằng:
Từ khi Công ty Thăng Long được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho đến khi chính thức đi vào hoạt động thì ông Bích và bà Năm là thành viên công ty không góp vốn, toàn bộ số tiền vốn góp vào công ty là cùa bà Hương, đồng thời cho rằng, ông Bích với tư cách Giám đốc công ty đã không làm tròn chức trách của mình như không làm thủ tục xác nhận phần vốn góp của thành viên công ty theo Luật doanh nghiệp, tài chính công ty không minh bạch, kinh doanh không có hiệu quà, chi sai nguyên tắc làm thiệt hại đến tài chính của công ty. Bà Hương yêu cầu Tòa án buộc ông Bích - Giám đốc công ty công nhận toàn bộ số tiền bà đã góp vào công ty là 847.063.500 đồng. Ông Bích chỉ thừa nhận tổng số tiền góp vốn của bà Hương là 827.063.500 đồng, trong đó có 200.000.000 đồng là vốn điều lệ. Ông Bích không thừa nhận một số khoản tiền góp vốn mà bà Hương cho rằng ông Bích đã nhận trực tiếp bằng tiền mặt, trong đó có khoản tiền 100.000.000 đồng.
(Sưu tầm)

3. Công ty trách nhiệm hữu hạn P?

An, Bình, Chương và Dung thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Đông kinh doanh mua bán thủy sản, vật tư ngành thủy sản với vốn điều lệ là 1 tỷ đồng. An góp 200 triệu đồng bằng tiền mặt (20% vốn điều lệ); Bình góp một chiếc ôtô được định giá 200 triệu đồng (20%); Chương góp kho bãi kinh doanh, một số thiết bị vật tư được định giá 500 triệu đồng (50%), và Dung góp 100 triệu đồng bằng tiền mặt (10%).
Theo Điều lệ công ty, Chương là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Bình là Giám đốc, An là Phó Giám đốc. Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho công ty. Sau một năm hoạt động, mâu thuẫn xảy ra giữa Chương và Bình. Với tư cách là Chủ tịch Hội đồng thành viên và là người góp nhiều vốn nhất, Chương ra quyết định cách chức Giám đốc của Bình và bổ nhiệm An làm Giám đốc thay thế.
Không đồng ý với quyết định kể trên, Bình vẫn tiếp tục giữ con dấu của công ty. Sau đó lấy danh nghĩa công ty Phương Đông, Bình ký hợp đồng vay 700 triệu đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Xuân. Theo hợp đồng, Công ty Trường Xuân chuyển trước 300 triệu đồng cho Công ty Phương Đông. Toàn bộ số tiền này được Bình chuyển sang tài khoản cá nhân của mình. Theo sổ sách, tài sản của Công ty Phương Đông vào thời điểm này khoảng 1,2 tỷ đồng.
Chương kiện Bình ra tòa, yêu cầu Bình nộp lại con dấu cho công ty, hoàn trả số tiền 300 triệu đồng cho công ty và bồi thường thiệt hại cho công ty. Thêm nữa, Công ty trách nhiệm hữu hạn Trường Xuân cũng khởi kiện Công ty Phương Đồng, yêu cầu hoàn trà số tiền 300 triệu đồng mà Trường Xuân đã cho Phương Đông vay.
(Sưu tầm)

4. Công ty trách nhiệm hữu hạn L?

Theo đơn khởi kiện ngày 12-7-2007 và các tài liệu, chứng cứ do bà Lê Thị Hương xuất trình thì: Ngày 18-4-2004, bà Lê Thị Hương, ông Đỗ Quang Bích và bà Đào Thị Năm cùng nhau thỏa thuận góp vốn để thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ văn hóa Thăng Long (gọi tắt là Công ty Thăng Long) với tổng số vốn điều lệ là 470.000.000 đồng; trong đó các thành viên đăng ký góp vốn, cụ thể như sau:
- Ông Đỗ Quang Bích: 25.000.000 đồng
- Bà Lê Thị Hương: 200.000.000 đồng
- Bà Đào Thị Năm: 20.000.000 đồng
Ngày 23-4-2004, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Nông đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 63.02.000.022 cho Công ty. Công ty đã chính thức đi vào hoạt động nhưng ông Đỗ Quang Bích và bà Đào Thị Năm đều không góp vốn vào công ty; toàn bộ số tiền hoạt động của công ty là do một mình bà Hương góp vào. Từ ngày 04-5-2004 đến ngày 11-12-2005, bà Hương đã góp vào công ty tổng số tiền là 1.008.063.500 đồng; trong đó có khoản tiền bà Hương trả tiền mua đất cho ông Trần Ngọc Long là 40.000.000 đồng, nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất là 63.000.000 đồng, chuyển vào Công ty Thăng Long 905.063.500 đồng (có chứng từ kèm theo).
Vào năm 2005-2006, do công ty kinh doanh thua lỗ, không có tiền để trả tiền hàng nên bà Hương đã phải vay mượn số tiền 88.000.000 đồng để lấy hàng nhằm duy trì hoạt động kinh doanh của công ty (không có chứng từ).
Sau một thời gian công ty hoạt động, ông Đỗ Quang Bích có biểu hiện không minh bạch về tài chính, chi tiêu không theo nguyên tắc kế toán nên bà Hương đã yêu cầu ông Đỗ Quang Bích lập biên bản xác nhận phần vốn góp của từng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp nhưng ông Bích không làm. Bà Hương có đơn khiếu nại lên Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Nông thì ông Đỗ Quang Bích mới bổ túc hồ sơ xác nhận phần vốn góp của bà Hương là 600.000.000 đồng.
Bà Lê Thị Hương yêu cầu Tòa án xem xét, xác định vốn bà đã đóng góp vào Công ty Thăng Long (bao gồm vốn cố định và vốn lưu động) với số tiền là 993.063.500 đồng (905.063.500 đồng + 88.000.000 đồng).
Bị đơn trình bày:
- về vốn góp của bà Lê Thị Hương: Công ty Thăng Long chỉ có thể căn cứ vào những chứng từ hợp pháp để xác nhận vốn góp của bà Hương vào hoạt động kinh doanh của Công ty, cụ thể là 650.000.000 đồng do Hội đồng thành viên công ty thỏa thuận chấp nhận, số tiền còn lại do bà Hương không thực hiện đúng theo chế độ tài chính kế toán nên công ty không thừa nhận.
- Thực trạng quản lý và xác nhận vốn góp của thành viên công ty: về nguyên tắc, vào thời điểm các thành viên góp đủ vốn điều lệ và vốn góp huy động sẽ được Công ty cấp giấy chứng nhận góp vốn và làm sổ đăng ký thành viên. Nhưng đến nay Công ty chưa thực hiện được vì những lý do sau:
+ Sau khi Công ty đăng ký thành lập, các thành viên chưa thể huy động vốn trong một lần và thực tế Công ty và các thành viên cũng chưa cần huy động ngay một lần với số lượng tiền mặt như cam kết thỏa thuận vào thời điểm ngày 30-4-2004 và ngày 30-9-2004 nên các thành viên tự nguyện huy động nguồn vốn theo khả năng và nhu cầu hoạt động của Công ty để làm vốn kinh doanh. Khi Công ty hoạt động ổn định, vào thời điểm phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ tổng kiểm kê, tổng hợp báo cáo tài chính để xác định chính xác phần vốn của các thành viên làm căn cứ cấp giấy chứng nhận phần vốn góp, lập sổ đăng ký thành viên hoàn chỉnh theo luật định.
+ Vốn điều lệ là trách nhiệm của mỗi thành viên cam kết khi phát sinh rủi ro nên việc chưa có sổ đăng ký thành viên thực tế không ảnh hưởng trực tiếp đến trách nhiệm pháp lý và thực tế hoạt động kinh doanh của Công ty đối với mỗi thành viên. Như vậy, về mặt pháp lý, toàn bộ các thành viên chưa ai xác định chính xác phần vốn điều lệ thực góp vào Công ty mà thực chất là khoản nợ đổi với Công ty nên Công ty chưa làm sổ đăng ký thành viên ngay được. Bà Hương cũng chưa trực tiếp giao nhận và yêu cầu Công ty xác nhận số tiền góp vốn, ngoài số vốn bà huy động góp vào kinh doanh cho Công ty là 600.000.000 đồng, Công ty cũng đã có văn bản xác nhận vốn góp của bà Hương.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2007/ KDTM-ST ngày 18-11-2007, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông căn cứ Điều 29, Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Điều 39 Luật doanh nghiệp năm 199, Điều 6 Điều lệ của Công ty, quyết định:
- Chấp nhận một phần đơn kiện của bà Lê Thị Hương, xác nhận bà Lê Thị Hương đã góp vào Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ văn hóa Thăng Long số tiền là 827.063.500 đồng, trong đó vốn điều lệ là 200.000.000 đồng, vốn huy động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hoạt động của Công ty là 627.063.500 đồng.
- Ông Đỗ Quang Bích - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty Thăng Long có trách nhiệm phải xác nhận vốn góp cho bà Lê Thị Hương số tiền 827.063.500 đồng theo quy định của Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 20/2008/ KDTM-PT ngày 11-4-2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nang căn cứ khoản 2 Điều 275 và khoản 1 Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, quyết định:
“Chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ văn hóa Thăng Long, sửa một phần bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 27 và Điều 43 Luật doanh nghiệp năm 199, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hương: buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ văn hóa Thăng Long phải chấp nhận phần góp của bà, bao gồm: vốn điều lệ 200.000.000 đồng, vốn đầu tư 450.000.000 đồng, đồng thời hoàn trả cho bà Lê Thị Hương do góp dôi ra so với quy định của Hội đồng thành viên là 63.063.500 đồng”.
Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Hương có nhiều đơn đề nghị xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 23/2009/ KDTM-KN ngày 26-11-2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 20/2008/KDTM-PT ngày 11-4-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nằng và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2007/KDTM-ST ngày 18-11-2007 của Tòa án nhân dân tinh Đăk Nông, xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.
Nguồn: trích từ Quyết định giám đốc thẩm số Ỉ0/20Ỉ0/ KDTM-GĐT ngày ỉ0-8-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhãn dân tối cao.

5. Công ty trách nhiệm hữu hạn T?

Công ty trách nhiệm hữu hạn T hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến lâm sản, được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh năm 2006 do ông L, bà T, ông P, ông Đ thành lập. vốn điều lệ của công ty là 470.000.000 đồng. Điều lệ công ty quy định: “trong trường hợp thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp cho người ngoài công ty phải được sự đồng ỷ của sổ thành viên đại diện cho ỉt nhất là 80% vốn điều lệ chấp thuận Các nội dung khác như quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Sau hơn một năm hoạt động, trong nội bộ Công ty T có nhiều biến động. Ông P và ông Đ đã chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình tại Công ty T cho hai thành viên còn lại là ông L và bà T. Đến thời điểm này, ông H và bà D đều nắm giữ 50% vốn điều lệ. Ông Hiếu giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên. Công ty thuê bà Nguyễn Thị Bích Thủy làm Giám đốc điều hành công ty.
Đến giữa năm 2008, giữa ông Hiếu và bà Dung phát sinh mâu thuẫn. Bà Dung đã làm đơn khởi kiện Công ty Trường Thịnh đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu xin rút 50% vốn đã góp là 235.000.000 đồng, được sở hữu 50% tài sản của công ty và được chia lợi nhuận đến ngày bà ra khỏi công ty.
Tại các biên bản làm việc giữa Tồa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với bà Dung vào các ngày 29-6-2008 và 20-7-2008, bà Dung đều yêu cầu được rút toàn bộ vốn hoặc chuyển nhượng cho các thành viên khác theo giá thỏa thuận, nếu không chuyển nhượng được cho các thành viên khác thì giải thể công ty. Tại cuộc họp các thành viên công ty ngày 16-8-2008 và biên bản hòa giải không thành ngày 13-9- 2008, bà Dung thông báo đâ có người chấp thuận mua phần vốn góp của bà với giá là 235.000.000 đồng, nhưng ông Hiếu không đồng ý cho bà chuyển nhượng cho người ngoài công ty, ông không mua phần vốn góp này và cũng không giới thiệu ai với lý do giá mà bà Dung đưa ra là không hợp lý. Trong khi đó, Công ty Việt Toàn Năng đồng ý mua lại phần vốn góp, quyền lợi của bà Dung trong Công ty Trường Thịnh với giá thỏa thuận là 235.000.000 đồng và đồng ý thay bà Dung làm thành viên của Công ty Trường Thịnh, đồng thời chịu trách nhiệm, nghĩa vụ của bà trong công ty.
(Sưu tầm)