1. Miễn hình phạt là gì?

Miễn hình phạt là hoạt động không buộc cá nhân hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện biện pháp cưỡng chế của nhà nước (hình phạt chính, hình phạt bổ sung được quy định trong pháp luật hình sự) mà cá nhân, pháp nhân thương mại đó thực hiện.

Miễn hình phạt với người phạm tội đã thỏa mãn các yếu tố cầu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chịu hình phạt. Trường hợp này vẫn bị tuyên là có tội nhưng bản án không quy trách nhiệm áp dụng hình phạt.

 

2. Trường hợp được miễn hình phạt

Theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người phạm tội được miễn hình phạt thì cần thỏa mãn những điều kiện sau:

Thứ nhất, thuộc một trong các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ như: người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức; người phạm tội là người phụ nữ có thai;...

Trường hợp 2: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Thứ hai, người phạm tội được xét đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

Người phạm tội không phân biệt là phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng mà chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện thì có thể được miễn hình phạt.

Căn cứ vào Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại, trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Khi người phạm tội hay pháp nhận thương mại phạm tội được miễn hình phạt thì sẽ được miễn hình phạt chính và cả hình phạt bổ sung (nếu có). Mỗi tội phạm thì người phạm tội chỉ áp dụng một hình phạt chính và bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Ví dụ: A bị phạm tội về tội trộm cắp tài sản (theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 2017) và bị phạt 3 năm tù vì đã chiếm đoạt tượng bằng vàng (trị giá là 50.000.000 đồng). Nhưng A có 03 tình tiết giảm nhẹ (A tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; A đã đến cơ quan công an tự thú và đây là lần đầu tiên A phạm tội), do đó tòa án quyết định giảm hình phạt cho A xuống 02 năm tù. Đồng thời, hoàn cảnh kinh tế của A khó khăn (bố mẹ không còn, A lại đang mắc bệnh hiểm nghèo,...) nên Tòa có thể xem xét trường hợp của A  được miễn hình phạt.

 

3. Miễn chấp hành hình phạt 

Miễn chấp hành hình phạt là hoạt động không buộc người phạm tội bị kết án phải chấp hành toàn bộ hoặc phần còn lại của hình phạt đã tuyên trong bản án, quyết định của Tòa án. Thẩm quyền xét và quyết định miễn chấp hành toàn bộ hoặc một phần hình phạt thuộc về Tòa án khi có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát.

Miễn chấp hành hình phạt là một trong những chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với những người bị kết án có hoàn cảnh đặc biệt (như mắc bệnh hiểm nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó khăn,...), đã chấp hành tốt pháp luật, sau khi kết án đã có lập công. Điều này phần nào khuyến khích người bị kết án cố gắng cải tạo, lập công để hưởng sự khoan hồng.

Đối với miễn chấp hành hình phạt, người phạm tội đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự, phải chịu hình phạt hoặc không phải chấp hành (thi hành án) toàn bộ hoặc một phần bản án.

Trường hợp miễn chấp hành hình phạt, được quy định tại điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Thứ nhất, người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân vào ngày lễ lớn (ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 30/4...), sự kiện trọng đại của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt (theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá năm 2018). Đặc xá được áp dụng cho người phạm tội trong giai đoạn thi hành án phạt tù (tù có thời hạn, tù chung thân).

Theo quy định tại Điều 11 Luật Đặc xá thì điều kiện để được đề nghị đặc xã, bao gồm: 

+ Người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn:

  1. Có nhiều tiến bộ, ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
  2. Đã chấp hành án phạt tù ít nhất 1/3 thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, đã chấp hành án ít nhất 14 năm đối với phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn. (sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù);
  3. Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí;.....

+ Người đang được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được đề nghị đặc xá khi có đủ điều kiện sau:

  1. Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong thời gian chấp hành án phạt tù trước khi có quyết định tạm đình chỉ;
  2. Đã có thời gian chấp hành án phạt tù ít nhất 1/3 thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, đã chấp hành ít nhất 14 năm đối với phạt tù chung thân đã được giám xuống tù có thời hạn;
  3. Chấp hành nghiêm chỉnh;
  4. Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù....

Như vậy, để ra quyết định đặc xá thì phải đáp ứng 02 điều kiện sau: thứ nhất, có đủ điều kiện được đề nghị đặc xá theo Điều 11 Luật Đặc xá năm 2018; thứ hai, phải có đơn đề nghị được đặc xá gửi đến Chủ tịch nước.

Ví dụ: A thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (chiếm đoạt 300 triệu đồng của B) và bị kết án 15 năm tù. Trong thời gian chấp hành án, A có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù loại tốt. Được biết A đã chấp hành được 08 năm tù, đã thanh toán xong số tiền cho B và án phí. Xét thấy việc đặc xá cho A không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự cũng như không nằm trong trường hợp không được đề nghị đặc xá (bị kết án về tội phạm được quy định trong Chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự; bản án, quyết định của Tòa án đối với người đó đang bị kháng nghị theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác; trước đó đã được đặc xá; có từ 02 tiền án trở lên;....)

Đại xá là sự khoan hồng của Nhà nước do Quốc hội quyết định tha tội hoàn toàn cho một số loại tội phạm nhất định với hàng loạt người phạm tội nhân những sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước. Đại xá có thể thực hiện vào những dịp quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước đối với người phạm tội đang ở giai đoạn truy tố, xét xử hay đến giai đoạn thi hành án.

Thứ hai, người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Sau khi bị kết án đã lập công:

Người bị kết án đã có những hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm hay cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản của Nhà nước, tập thể, công dân trong thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn hay có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thương và xác nhận.

+ Mắc bệnh hiểm nghèo:

Người bị kết án mắc các bệnh hiểm nghèo có nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị (như: ung thư giai đoạn cuối, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV, lao nặng độ 4 kháng thuốc, xơ gan cổ chướng , suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên) hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không có khả năng tự phục vụ  bản thân, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao (theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 04/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP quy định phối hợp trong thực hiện trình tự, thủ tục giảm thời hạn, miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại).

+ Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không có nguy hiểm cho xã hội nữa.

Ví dụ: C và D là hàng xóm của nhau. Vào tối nọ, C biết D đi về quê để thăm ông bà ngoại bị ốm thì C chờ D xong liền chạy sang nhà của D để trộm tài sản (C đã trộm của D 5.000.000 đồng). C bị kết án về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bởi khoản 34 Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 2017) với hình phạt phạt cải tạo không giam giữ 02 năm nhưng chưa chấp hành hình phạt. Xét thấy vì hoàn cảnh gia đình D vô cùng khó khăn (C bị mắc bệnh suy thận độ IV  còn người con 08 tuổi bị khuyết tật chân, bố mẹ đã mất và người vợ đã bỏ đi sang Trung Quốc đến nay là 07 năm mà chưa thấy về hay có tin tức gì) nên Viện trường Viện kiệm sát ở tỉnh B gửi văn bản đề nghị miễn chấp hành hình phạt đến Tòa án.

Thứ ba, người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt,

Thứ tư, người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

Người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khi:

  1. Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
  2. Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (được hoãn khi con đủ 36 tháng tuổi);
  3. Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm (trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hay các tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng);
  4. Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ (được hoãn đến 01 năm).

Thứ năm, người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

Thứ sáu, người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt còn lại.

Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay bất kỳ vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê qua số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn!