1. Mẫu đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự

Công ty luật Minh Khuê cung cấp mẫu đơn thỉnh cầu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự để Quý khách hàng tham khảo, thông tin chi tiết vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, hỗ trợ trực tiếp:

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

-----------------------------------------------

>> Tải ngay: Mẫu đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

______***_______

……………., ngày ….. tháng …… năm 20….

ĐƠN XIN MIỄN TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Kính gởi: - Ông …………………………., Thẩm Phán

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Ông …………………………, Kiểm Sát Viên

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tôi tên: Nguyễn Thị …………………….., Sinh năm 19...,,,,

CMND số: ……………………cấp ngày:……/…./20….. tại:...

Là bị cáo trong vụ án “Cố ý làm trái các quy định của Nhà Nước tại công ty cổ phần ... đã bị truy tố theo cáo trạng số: ... ngày ... và sẽ bị xét xử vào ngày ... tại Tòa sơ thẩm Tòa Án Nhân Dân TP. Hồ Chí Minh.

Tôi xin trình bày như sau:

Vì muốn hoàn thành tốt mọi công tác được giao và cũng vì cả nể không dám đi ngược lại ý kiến của cấp trên nên tôi đã có những sai sót và những vi phạm trong thời gian qua. Kết quả là tôi sẽ phải ra Tòa để chịu xét xử vào ngày / 3 / 20...sắp tới.

Dù tôi biết là mình có lỗi và rất ăn năn về lỗi lầm này, nhưng thật sự tôi không cố ý phạm tôi, tôi không vì động cơ cá nhân khi vi phạm. Ngoài ra, mọi hậu quả đều đã được khắc phục hoàn toàn và công ty cổ phần Dược phẩm ……………………… cũng như Tổng công ty Dược Việt Nam đều có văn bản xin xem xét cho trường hợp của tôi.

Bằng sự tuyệt đối tin tưởng vào chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà Nước, tôi làm đơn này thỉnh cầu quý Tòa và quý Viện xem xét cho tôi được miễn trách nhiệm hình sự đối với các sai phạm của tôi trong phiên tòa sắp tới. Tôi xin cam kết là sẽ ăn năn hối cải và không bao giờ tái phạm nữa.

Trong khi chờ đợi sự xem xét giúp đỡ của quý Tòa và quý Viện, xin quý Tòa và quý Viện nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của cả gia đình chúng tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

(Ký tên)

…………………………

-----------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

2. Làm thế nào để được miễn chấp hành hình phạt tù ?

Chào luật sư, Tôi bị Tòa án tuyên phạt 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành bản án. Khi bản án có hiệu lực thi hành, tôi có đơn xin hoãn chấp hành án và được Tòa án cho tôi hoãn chấp hành án nhiều lần vì lý do bị bệnh nặng (theo giám định của Trung tâm giám định pháp y thành phố).
Từ khi bản án có hiệu lực đến nay đã được 6 năm, tôi phải làm gì để không chấp hành án và cũng không phải hoãn thi hành án?
Kính mong luật sư giải đáp !
Người hỏi: T.H

>> Xem thêm:  Người đang chấp hành án phạt tù có được góp vốn vào doanh nghiệp không ?

Làm thế nào để được miễn chấp hành hình phạt tù?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điểm a khoản 1 Điều 62 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về miễn chấp hành hình phạt như sau:

Điều 62. Miễn chấp hành hình phạt

1. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

2. Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công;

b) Mắc bệnh hiểm nghèo;

c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy him cho xã hội nữa.

3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nêu đã lập công lớn hoặc mc bệnh him nghèo và người đó không còn nguy him cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

4. Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nêu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kim sát, Tòa án có thể quyết định min chp hành phn hình phạt còn lại.

5. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

6. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phn hai thời hạn hình phạt và cải tạo tt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

7. Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

Ngoài ra Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP quy định người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.

- “Lập công lớn” là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

- “Mắc bệnh hiểm nghèo” là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên thì người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị.

b) Người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội, được chứng minh bằng việc họ đã hoàn lương, chăm chỉ làm ăn, tham gia các hoạt động xã hội... hoặc do họ mắc bệnh hiểm nghèo không còn hoạt động được...

c) Được Viện trưởng Viện kiểm sát đề nghị bằng văn bản cho miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Như vậy để được miễn chấp hành hình phạt mà không phải xin hoãn chấp hành hình phạt thì bạn phải thuộc một trong những trường hợp quy định nêu trên.

Trân trọng./.

3. Mắc bệnh hiểm nghèo có được miễn chấp hành hình phạt tù ?

Chào Luật sư, xin hỏi: Vừa rồi tôi có liên quan đến một vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nghe phía bên Công an có thể tôi sẽ bị cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 3 năm với vai trò là đồng phạm. Hiện tại tôi đã phát hiện mình bị bệnh hiểm nghèo (ung thư), tôi có nghe nói Luật hình sự mới quy định nếu tôi bị bệnh hiểm nghèo sẽ được miễn chấp hành hình phạt có đúng không ạ ?

Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt có quy định chi tiết về mắc bệnh hiểm nghèo như sau:

Mắc bệnh hiểm nghèo” là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên thì người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạnh, khó có phương thức chữa trị.

Điều 62 Bộ luật hình sự 2015 có quy định:

Điều 62. Miễn chấp hành hình phạt

1. Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

2. Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Sau khi bị kết án đã lập công;

b) Mắc bệnh hiểm nghèo;

c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

3. Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

4. Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

5. Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

6. Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

7. Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

Căn cứ quy định điểm b Khoản 2 Điều 62 Bộ luật hình sự 2015 thì khi bạn bị mắc bệnh hiểm nghèo và bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm, chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

4. Đang kháng cáo bản án sơ thẩm cán bộ, công chức có bị miễn nhiệm ?

Xin luật sư tư vấn cho em. Em là trạm trưởng trạm khuyến nông thuộc trung tâm khuyến nông tỉnh. Tháng 4 năm 2017 em bị toàn án sơ thẩm tỉnh Đăk Nông xét xử tội tham ô tài sản và lĩnh án 2 năm tù giam và hiện em đang kháng cáo lên tòa án cấp cao hơn để bác bỏ tội danh này . Tháng 6 vừa qua trung tâm khuyến nông tỉnh ra quyết định miễn nhiệm chức vụ trưởng trạm của em với lý do là bị tòa án kết tội.

Vậy xin hỏi luật sư đúng hay sai ?

Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự rực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết , chúng tôi xin phân biệt miễn nhiệm và bãi nhiệm:

Miễn nhiệm là việc cho thôi giữ chức vụ do không hoàn thành nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm, do yêu cầu của nhiệm vụ hoặc theo đề nghị của cán bộ, công chức vì lý do sức khỏe hoặc lý do khác.

Bãi nhiệm là việc buộc thôi giữ chức vụ do bầu cử trước khi hết nhiệm kỳ do vi phạm pháp luật, vi phạm về phẩm chất, đạo đức, không còn xứng đáng giữ chức vụ được giao ở cơ quan nhà nước.

Luật cán bộ , công chức 2008 cũng quy định , công chức có thể bị miễn nhiệm trong trường hợp sau :

Điều 54. Từ chức hoặc miễn nhiệm đối với công chức

1. Công chức lãnh đạo, quản lý có thể từ chức hoặc miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:

a) Không đủ sức khỏe;

b) Không đủ năng lực, uy tín;

c) Theo yêu cầu nhiệm vụ;

d) Vì lý do khác.

2. Công chức lãnh đạo, quản lý sau khi từ chức hoặc miễn nhiệm được bố trí công tác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo hoặc nghỉ hưu, thôi việc.

3. Công chức lãnh đạo, quản lý xin từ chức hoặc miễn nhiệm nhưng chưa được cấp có thẩm quyền đồng ý cho từ chức hoặc miễn nhiệm vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc từ chức hoặc miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Vậy ở đây việc cơ quan bạn ra quyết định miễn nhiệm bạn có thể vì bạn bị tòa án sơ thẩm kết tội nên không còn đủ uy tín để đảm nhiệm công tác quản lý nữa. Mặt khác theo nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội". Vậy việc bạn bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên án đã là 1 căn cứ cho rằng bạn vi phạm pháp luật, việc bạn kháng cáo không có giá trị chứng minh bạn vô tội mà sẽ phải chờ vào quyết định của Tòa án, do vậy trong trường hợp này cơ quan có quyền Bãi nhiệm bạn với lý do bạn vi phạm pháp luật.

Việc cơ quan miễn nhiệm bạn không trái với quy định của pháp luật .

5. Giảm mức hình phạt đã tuyên được quy định như thế nào?

Thưa luật sư, Tôi tên là Nguyễn Thị T, công tác tại Tp.HCM. Tôi được biết thì Bộ Luật hình sự 2015 vừa chính thức được thông qua và tôi muốn tìm hiểu một số nội dung theo luật mới này. Vì vậy, cho tôi hỏi giảm mức hình phạt đã tuyên trong Bộ Luật hình sự 2015 được quy định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 63 Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì vấn đề giảm mức hình phạt đã tuyên được quy định như sau:

Điều 63. Giảm mức hình phạt đã tuyên

1. Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.

2. Một người có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên.

Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.

3. Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.

4. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.

5. Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này.

6. Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc đim c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.

Như vậy, với tinh thần nhân đạo, khoan hồng với người phạm tội thì pháp luật cho phép người phạm tội sẽ được giảm mức hình phạt nếu có nhiều tiến bộ trong quá trình chấp hành hình phạt. Giảm mức hình phạt đã tuyên có sự khác nhau cơ bản với trường hợp miễn hình phạt, người bị kết án chỉ được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?