NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả là lĩnh vực pháp luật quy định sự bảo hộ đối với "tác phẩm nguyên gốc do tác giả sáng tạo", bao gồm hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, tiểu thuyết, thơ, kịch, kiến trúc, múa, tài liệu hướng dẫn, tư liệu kỹ thuật, phần mềm máy tính và những tác phẩm khác. Sự bảo hộ pháp lý bắt nguồn từ việc một tác giả độc lập sáng tạo ra tác phẩm và "sự thể hiện" của tác giả về một ý tưởng là sự thể hiện nguyên gốc, thay vì nó được sao chép từ một người khác. Quyền tác giả có một tiêu chuẩn khác với tiêu chuẩn tính mới trong bằng độc quyền sáng chế, tức là lĩnh vực tập trung vào tính mới của ý tưởng hoặc khái niệm hữu ích, không tập trung vào sự thể hiện ý tưởng. Khác với sáng chế, tác phẩm do tác giả sáng tạo không cần mang tính hữu ích. Quyền tác giả chỉ dành cho sự thể hiện về ý tưởng hoặc khái niệm, không dành cho bản thân ý tưởng hoặc khái niệm. Sự khác biệt giữa quyền tác giả và bằng độc quyền sáng chế là "sự đối lập thể giữa sự kiện ý tưởng". Ví dụ nổi tiếng là tuy vở kịch Romeo và Juliet của Shakespeare đã là một sự thể hiện sáng tạo, một tác phẩm được bảo hộ theo quyền tác giả (nếu như đã tồn tại một học thuyết như vậy lúc đó), nhưng tất cả các câu chuyện trai gái yêu nhau bất chấp sự cản trở về gia đình và đẳng cấp đều không xâm phạm vở kịch đó.

Không có định nghĩa cứng nhắc về tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tác giả. Thay vào đó, người ta nói nó bao trùm tất cả các "tác phẩm văn học và nghệ thuật" và người ta đã muốn có một tiêu chuẩn linh hoạt. Trên thực tế, bảo hộ quyền tác giả đã được mở rộng tới cả những tác phẩm mà có thể người bình thường không coi là tác phẩm văn học cũng không coi là tác phẩm nghệ thuật, chẳng hạn như phần mềm máy tính hoặc tài liệu kỹ thuật.

Bảo hộ quyền tác giả có thể phát sinh đối với cùng một sản phẩm hoặc công nghệ, đồng thời với những hình thức khác của SHTT; ví dụ, một sáng chế liên quan đến phần mềm máy tính có thể được bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế, đồng thời mã phần mềm có thể được bảo hộ theo quyền tác giả. Tương tự như vậy, quyền tác giả có thể bảo hộ một tác phẩm nghệ thuật trong khi tác phẩm nghệ thuật đó cũng được bảo hộ dưới danh nghĩa một kiểu dáng công nghiệp, cũng như quyền tác giả có thể bảo hộ một văn bản trong khi văn bản đó còn là một bí mật thương mại.

Ở đây một số nước, để được bảo hộ quyền tác giả thì tác phẩm phải được định hình, do vậy một người khác có thể nhận biết được tác phẩm dưới một hình thức ổn định hoặc không đổi. Tuy nhiên, bảo hộ quyền tác giả phát sinh không kèm theo bất kỳ việc đăng ký đặc biệt, nộp lưu, hoặc yêu cầu hành chính khác nào nữa; ngay khi hình thức thể hiện được sáng tạo hoặc định hình, tác phẩm được cấp quyền thuộc quyền tác giả bảo hộ một cách tự động. Trong nhiều năm qua, đã có sự thỏa thuận trên phạm vi quốc tế về việc các nước không được yêu cầu những "thể thức" đối với việc sử dụng và hưởng quyền tác giả.

Năm 1961, với Công ước Rome, những phạm trù mới về quyền chưa được bảo hộ trước đó theo quyền tác giả đã ra đời. Các quyền mới này được gọi là "quyền kề cận", bao gồm quyền đối với phát sóng, bản ghi âm và biểu diễn. Do việc thông qua Hiệp định TRIPS, thuật ngữ quyền kề cận đã được thay thế phổ biến bằng thuật ngữ "quyền liên quan", mặc dù cả hai thuật ngữ đều vẫn được sử dụng.

2. Công nghiệp văn hóa:

Những hoạt động và ngành công nghiệp mà sức mạnh cơ bản bám rễ trong sự báo hộ theo pháp luật quyền tác giả và quyền liên quan cho các sản phẩm và dịch vụ đầu vào của chúng thường được gọi là ngành công nghiệp văn hoá. Tuy nhiên, thuật ngữ này quá hẹp vì Chương trình máy tính cũng được bảo hộ theo quyền tác giả.

Người ta nói rằng khía cạnh mang tính văn hoá nhất của bất kỳ một con người nào đều là ngôn ngữ mà người đó sử dụng. Quần áo, hành vi, hoạt động tinh thần, đồ ăn, v.v. cũng có thể là biểu hiện văn hoá; tuy nhiên, không gì có thể nói "văn hoá" nhanh bằng ngôn ngữ. Khi ngôn ngữ được viết ra; được hoá thân vào âm nhạc; được chuyển thể thành sản phẩm nghe nhìn; hoặc được sử dụng với máy tính thì thường là lúc tác phẩm được bảo hộ theo pháp luật quyền tác giả ra đời. Khi được giữ gìn, được thúc đẩy bởi động cơ thương mại và được tổ chức ở quy mô chiến lược, các hoạt động nói trên tập hợp thành những doanh nghiệp và được xếp vào ngành công nghiệp cung cấp sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu, niềm khao khát về văn hoá của chúng ta, cũng như thỏa mãn nhiều niềm vui, yêu cầu, lợi ích và những hoạt động bổ sung khác.

Nội dung này sẽ nói tới từng ngành công nghiệp văn hoá, thảo luận các khía cạnh và hoạt động đặc trưng của mỗi ngành đó, để nêu bật mới quan hệ giữa các hoạt động giàu tính văn hoá và năng động này với bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan. Thuật ngữ "ngành công nghiệp" sử dụng ở đây được hiểu là không chỉ bao hàm các doanh nghiệp trong một số hoạt động hoặc kinh doanh nào đó mà còn bao gồm nhiều nhà sáng tạo, tác giả, nghệ sĩ và người biểu diễn, những người tham gia vào hoạt động văn hoá mang tính thương mại trên phạm vi toàn cầu và trong nước, đồng thời cũng bao gồm các cộng đồng mà họ đã tạo lập nên.

Sự phân biệt và phân loại như sau là hợp lý nhất đối với các ngành công nghiệp mà bộ phận cấu thành là hoạt động kinh doanh về quyền tác giả: âm nhạc, nghe nhìn, nghệ thuật, kiến trúc, văn học, công nghệ thông tin, giải trí và giáo dục tương tác. Sự phân nhóm như trên là phù hợp nhất đối với các loại hình khác nhau của tác phẩm thuộc quyền tác giả và quyền liên quan, nhưng quan trọng hơn là nó phản ánh thực tế có những hoạt động và sản phẩm nhất định thích hợp với những phương thức công nghiệp xác định và thích hợp với những sản phẩm, dịch vụ nhất định. Do vậy, các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng là cơ sở của các loại hình.

Sáng tạo và đổi mới có vị trí trong trái tim và là linh hồn của các ngành công nghiệp quyền tác giả. Sức mạnh của các sản phẩm và dịch vụ mà chúng tạo ra là điều không thể chối cãi. Hầu như cuộc sống của mọi người đều đã bị thay đổi bởi một cuốn sách. Hầu như mọi người đã từng cười hoặc khóc vì một bộ phim. Nghệ sỹ tạo hình và nhà điêu khắc làm cho chúng ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cuộc sống. Máy tính và phần mềm máy tính làm cho công việc của chúng ta dễ dàng hơn, tạo cho chúng ta khả năng giao tiếp trên toàn cầu giúp chúng ta tiếp cận với khối lượng thông tin và tri thức vô hạn.

3. Sáu ngành công nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ trong danh sách bán hàng ở nước ngoài và xuất khẩu năm 1999

Để có khái miệm về độ lớn của các ngành công nghiệp quyền tác giả, xin giới thiệu một vài số liệu thống kê. Xem các số liệu nói về Hoa Kỳ trong năm 1999 thì thấy các ngành công nghiệp quyền tác giả chủ chốt đóng góp một khoản ước tính 457,2 tỉ USD cho nền kinh tế, chiếm xấp xỉ 4,94% GDP. Trong giai đoạn từ năm 1977 đến 1999, việc làm trong các ngành công nghiệp quyền tác giả chủ chốt tăng từ 1,6% lực lượng lao động (1,5 triệu người làm việc) lên 3,24% lực lượng lao động (4,3 triệu người làm việc). Xét về mặt bán hàng ở nước ngoài và xuất khẩu, các ngành công nghiệp quyền tác giả chủ chốt đã đạt ít nhất 79,65 tỉ USD trong năm 1999.5 số liệu thống kê từ những nước khác cũng phản ánh tình hình như trên, ở Niu-di-lân trong các năm từ 1987 đến 1994 tỉ lệ của các ngành công nghiệp quyền tác giả trong GDP tăng từ 3,1% lên 3,4%. Ở U-ru-guay, các ngành công nghiệp quyền tác giả chiếm 2,9% GDP. Sing-ga-po, tỷ lệ này là 2,7% GDP.

4. Tính toàn cầu của âm nhạc

Theo cách nhìn toàn cầu, trong số tất cả các ngành công nghiệp liên quan đến quyền tác giả thì âm nhạc là lĩnh vực mang tính toàn cầu nhất, có khả năng tiếp cận cao nhất và truyền bá rộng rãi nhất. Âm nhạc được sử dụng như là một yếu tố quan trọng trong những phương tiện khác, chẳng hạn như điện ảnh, video và sản phẩm phần mềm tương tác. Nó đóng một vai trò to lớn trong thành công của truyền hình và là sản phẩm chính mà đài phát thanh cung cấp. Kinh doanh âm nhạc là hoạt động phổ biến, sinh lợi (nhưng không phải bao giờ cũng vậy) và mang tính văn hoá. Không một đất nước nào trên thế giới lại không có một hình thức âm nhạc nào đó và hầu như tất cả các nước đều sáng tạo ra nhiều loại hình và phong cách âm nhạc.

Phần tiếp theo sẽ trình bày cách thức mà một khuôn khổ pháp luật về quyền tác giả thực hiện chức năng bảo hộ những người có đóng góp, thông qua việc xem xét ở mọi cấp độ của mô hình kinh doanh mà trong đó âm nhạc dịch chuyển từ bộ óc của nhạc sĩ hoặc người viết ca khúc đến tai người hưởng thụ.

5. Tác phẩm âm nhạc:

Toàn bộ quá trình làm cơ sở cho mô hình kinh doanh trong công nghiệp âm nhạc bắt đầu bằng một ca khúc, hoặc chính xác hơn là tác phẩm nhạc. Người viết ca khúc (một thuật ngữ thường dùng để chỉ người sáng tạo một ca khúc có cả lời và nhạc) và người soạn nhạc (một thuật ngữ thường dùng để chỉ người sáng tác một ca khúc chỉ có nhạc) là chủ sở hữu (các chủ sở hữu) của tất cả các quyền thuộc quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc tại thời điểm định hình từ khi người viết ca khúc định hình ý tưởng của mình dưới dạng vật chất, hoặc là bằng nốt nhạc hoặc là bằng cách sử dụng khả năng ghi âm theo nguyên tắc tương tự hoặc kỹ thuật số. Tuỳ thuộc vào pháp luật quốc gia, sự bảo hộ quyền tác giả tự động có hiệu lực tại thời điểm sáng tạo hoặc định hình mà không có thêm thủ tục hình thức nào.

Khi được tập hợp lại với số lượng lớn, những tác phẩm âm nhạc tạo thành một ca-ta-lô âm nhạc. Để bảo tồn, khai thác và đưa các ca-ta-lô âm nhạc ra thị trường , những công ty xuất bản âm nhạc được hình thành. Việc mua bán ca-ta-lô âm nhạc diễn ra hàng ngày nhờ sự trợ giúp của hệ thống SHTT về phương diện tài sân; chúng là những tài sản quý mà giá trị được xác định bởi con số thu chi và lợi nhuận trong thực tế cũng như trong dự kiến. Giá trị này có thể thay đổi đột ngột qua một đêm, nói theo nghĩa đen của từ này, bởi một bản ghi âm ăn khách do một nghệ sĩ hoặc một ban nhạc thực hiện. Được xem như một ví dụ hay là "Macarena", một bản ghi âm ăn khách trên toàn thế giới do ban nhạc Los Del Rios ở Tây Ban Nha thực hiện, đã bán được hàng triệu bản sao và làm thay đổi ca-ta-lô của họ từ một ca-ta-lô phụ trở thành một tài sản có giá trị thương mại.

Tính chất có thể tái tạo (bền vững) của SHTT và các ứng dụng mang tính sáng tạo thích hợp với SHTT có thể nhận thấy được rất ró qua ví dụ về các tác phẩm nhạc trong một ca-ta-lô. Số lượng người biểu diễn có thể ghi àm lại tác phẩm âm nhạc là không hạn chế, nhờ đó làm tăng giá trị vốn có của tài sản cơ bản (tác phẩm âm nhạc). Toàn bộ quá trình này diễn ra được là nhờ pháp luật quyền tác giả và quyền liên quan tạo ra khả năng cho người có quyền, dưới hình thức các quyền sao chép, biểu diễn công cộng, phân phối và truyền đạt tới công chúng.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê