1. Nghiên cứu chung về kế toán giá trị hợp lý

Giá trị hợp lý không được đề cập như một loại giá độc lập trong khuôn mẫu lý thuyết nhưng nó đã trở thành một xu hướng quan trọng và gây rất nhiều tranh luận trong những năm gần đây, do đó, vấn đề GTHL được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu, phân tích và trình bày trong các chuyên đề nghiên cứu, các nghiên cứu về GTHL chủ yếu tập trung vào sự khác biệt giữa kế toán GTHL và kế toán theo giá gốc, tranh luận xung quanh việc nên hay không trong việc sử dụng GTHL làm cơ sở định giá trong kế toán thay thế cho các loại giá khác và GTHL có đáng tin cậy, có đảm bảo tính minh bạch của của báo cáo tài chính. 
Một số các nghiên cứu về đo lường giá trị hợp lý?

1.1 Sự khác biệt giữa kế toán theo GTHL và kế toán theo giá gốc và ưu điểm

của việc sử dụng GTHL

Nobes (2001) là một trong những người đầu tiên thực hiện phân tích chính về kế toán giá trị hợp lý, kế đến Plantin et al. (2005) và Penman (2006) miêu tả các ưu điểm và nhược điểm của kế toán giá trị hợp lý đương đại một cách sâu sắc hơn. Giá trị hợp lý đã loại bỏ các động cơ tạo lợi nhuận thương mại và chứng khoán hóa tài sản và do đó tăng độ tin cậy của báo cáo tài chính. Ngược lại, nếu giá trị hợp lý không thể xác định một cách rõ ràng, việc đo lường giá trị hợp lý sẽ mất tính khách quan của nó. Nếu định giá giá thị trường trong thị trường năng động bị thiếu, giá trị hợp lý chỉ có thể được đo dựa trên các giả định chủ quan và do đó có thể trở thành công cụ hộp đen để quản lý và điều chỉnh lợi nhuận tùy ý (Ryan, 2008).
Hệ thống kế toán truyền thống ưu tiên sử dụng giá gốc để đo lường các yếu tố của BCTC vì giá gốc là thước đo thận trọng để bảo vệ cho các chủ nợ. Tuy nhiên, theo sự phát triển kinh tế, kế toán theo giá gốc không còn phù hợp và thỏa đáng đến việc ra quyết định kinh tế và chúng làm suy giảm chức năng quản lý kế toán từ quan điểm của chủ sở hữu. Giá trị hợp lý được xem là đặc tính của thị trường hữu ích nhất liên quan đến đo lường trong báo cáo tài chính (David Prochazka,2011).Nền tảng kinh tế cho những khẳng định này có thể tìm thấy ở Beatty et al. (1996), hay Heaton et al. (2009). Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng "giá trị hợp lý không phải là thuốc chữa bách bệnh và các cơ sở đo lường khác cũng có các đặc tính mong muốn" (Barth, 2006). Giá trị hợp lý được lựa chọn như là một giải pháp thích hợp trong sự đánh đổi không bao giờ kết thúc giữa độ tin cậy và tính thích hơp của thông tin kế toán.

1.2 Các tranh luận xung quanh GTHL

Hitz, J-M.(2006) cho rằng việc thực hiện mô hình giá trị hợp lý là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.Trong khi nhiều người tán thành lợi ích của việc công bố theo GTHL , còn có nhiều quan điểm khác nhau đặc biệt liên quan đến việc đo lường giá trị hợp lý của các khoản mục được ghi nhận và xử lý các khoản lãi và lỗ do đánh giá lại. Mặc dù các cuộc thảo luận liên quan đến nhiều vấn đề cụ thể, nhưng nhìn chung, những cuộc tranh luận về giá trị hợp lý có thể được tóm tắt như sau (Barth, 2000: 18-22; Wyatt, 1991: 84):
- Liệu GTHL có đại diện cho thông tin hữu ích trong việc ra quyết định? Có nền tảng lý thuyết hợp lệ nào đối với các mô hình mang tính giả định?
- GTHL được công bố, có một khái niệm nào cho ghi nhận báo cáo tài chính cơ bản?
- Lợi nhuận từ việc đánh giá lại hợp lý của các khoản thu nhập hay phải được ghi nhận bên ngoài thu nhập?
- Những tính chất cơ bản của thu nhập từ giá trị hợp lý và sự đóng góp của nó đối với mục tiêu hữu ích quyết định là gì?
Khái niệm đo lường giá trị hợp lý xuất hiện trong kế toán tài chính và đã được chấp nhận trong abstract từ lâu trước khi nó là một chủ đề phân tích và tranh chấp (Bromwich, 2007). Hơn nữa, 'giá trị hợp lý' không phải là một phương pháp đo lường duy nhất mà bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau để ước lượng giá đầu ra. Vì vậy hầu như không đáng ngạc nhiên rằng nhiều lập luận đã được xây dựng và chống lại việc sử dụng các giá trị hợp lý trong kế toán không được chứng minh bằng các bằng chứng (Laux và Leuz, 2009).

1.3  GTHL có thích hợp, đáng tin cậy

Nhiều nghiên cứu cho rằng GTHL của tài sản và nợ phải trả là thích hợp như trong nghiên cứu về: tài sản vô hình (Barth và Clinch, 1998); bất động sản, nhà xưởng, thiết bị (Easton và Cộng sự, 1993); bất động sản đầu tư (Danbolt và Rees, 2008). Trong nghiên cứu của Bolivar và Galera (2012) tác giả cũng chỉ ra rằng việc áp dụng GTHL trong khu vực công thì người đọc sẽ dễ hiểu và dễ tiếp cận hơn so với giá gốc bởi vì GTHL là thích hợp, có khả năng so sánh và khả năng kiểm chứng.
Nghiên cứu của Jung và cộng sự (2013) cũng cho ra kết luận rằng các doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản phi tài chính cao sẽ lựa chọn đo lường theo GTHL để cung cấp thông tin thích hợp cho người sử dụng BCTC.

2. Các nghiên cứu về đo lường GTHL

2.1 Leslie Hodder, Patrick Hopkins, Katherine Schipper

, Fair Value Measurement in Financial Reporting, Foundations and Trends® in Accounting: Vol.9 (forthcoming

Trong chuyên khảo này, tác giả thảo luận các vấn đề thực tế và các khái niệm liên quan đến đo lường GTHL trong BCTC, tác giả giúp các nhà nghiên cứu và các đối tượng khác hiểu rõ hơn về đo lường GTHL trong bố cảnh FASB và khuôn mẫu IASB hướng dẫn, phát hành và đánh giá các nghiên cứu về đo lường GTHL, Trong từng phần của bài nghiên cứu này, tác giả thảo luận sự phát triển đo lường GTHL trong trình bày BCTC ở Mỹ; những thách thức mà các nhà nghiên cứu phải đối mặt khi sử dụng đo lường GTHL từ BCTC; thảo luận các yêu cầu về ghi nhận và công bố đo lường GTHL gia tăng đáng để trong suốt hai thập kỷ qua.

2.2 Renata Dylas, Barbara Kucharczyk, 2011

Fair Value in Polish Commercial Bank Reporting in: "Performance Management: Where to Look for Competitive Advantage?”, Oeconomica Publishing House, University of Economics in Prague, 2011
Tác giả trình bày thông tin về việc áp dụng giá trị hợp lý trong môi trường Ba Lan
. Nghiên cứu này tập trung vào các lĩnh vực ngân hàng Ba Lan và trên đánh giá các thực hành trong phạm vi áp dụng giá trị hợp lý trong đo lường công cụ tài chính và trong bài trình bày BCTC được lập phù hợp với IAS / IFRS, nguyên tắc đo lường trong IAS / IFRS chỉ ra rằng việc đo lường giá trị hợp lý có thể áp dụng đối với tất cả các khoản mục trên báo cáo tài chính . Tuy nhiên , việc áp dụng giá trị hợp lý gây ra rất nhiều tranh cãi . Một mặt, áp dụng các phương pháp đo lường giá trị hợp lý được khuyên sử dụng để tăng độ tin cậy của các thông tin trong báo cáo tài chính . Mặt khác, những hậu quả tiêu cực của việc áp dụng giá trị hợp lý đang được nhấn mạnh, vì nó được coi là thông tin không ổn định gây khó khăn trong đánh giá chính xác hoặc phân tích báo cáo tài chính . Nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả áp dụng IAS ở một số quốc gia phụ thuộc vào nhân tố chung và nhân tố riêng. Trong số các yếu tố chung , nổi bật lên là vai trò của Bộ tài chính trong quá trình khởi xướng và sau đó phối hợp các quá trình chuyển đổi sang IAS. Yếu tố chung khác bao gồm vai trò của người sử dụng báo cáo tài chính và các mối quan hệ giữa báo cáo tài chính và báo cáo thuế, trong số các nhân tố cụ thể, phải kể đến độ tin cậy và khả năng tiếp cận thông tin thị trường tạo thành cơ sở đo lường GTHL.

2.3 Neil Fargher, John Ziyang Zhang, 2012

The Effects of the FASB’s Relaxation of Fair Value Rules on the Quality of U.S. Bank Earnings, Research School of Accounting and Business Information Systems Australian National University, November-2012
Trước áp lực chính trị năm 2009, FASB nới lỏng quy định giá trị hợp lý để các nhà quản lý tự ý quyết định hơn trong đo lường giá trị hợp lý, những người ủng hộ lập luận rằng, thay đổi các nguyên tắc kế toán, sẽ giúp truyền tải thông tin riêng của nhà quản lý về đo lường GTHL, trong khi các nhà phê bình sự thay đổi đều cho rằng gia tăng sự tùy ý quyết định của nhà quản lý, Nhà quản lý sẽ có cơ hội khai thác các khoản nợ điều chỉnh, trước những tranh luận đó, bài nghiên cứu đã dùng số liệu của ngân hàng nắm giữ các công ty ở Mỹ làm mẫu nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu cho thấy, tác động tiêu cực gia tăng trong tùy ý quyết định GTHL chủ yếu từ giai đoạn sau quy định nới lỏng GTHL, các bằng chứng trong nghiên cứu phù hợp với tranh luận của các nhà phê bình rằng việc nới lỏng các quy định giá trị hợp lý tạo điều kiện tùy ý quyết định sẽ làm các nhà quản lý khai thác các cơ hội và ảnh hưởng xấu đến chất lượng BCTC.

2.4 Kathryn Bewley, Cameron Graham, Songlan Peng, 2013

Toward Understanding How Accounting Principles Become Generally Accepted: The Case of Fair Value Accounting Movement in China. In: Financial reporting and auditing as social and organizational practice Workshop 2, London, December 16-17, 2013
Bài nghiên cứu lập luận rằng từ năm 1978 đến năm 1996, kế toán tại Trung Quốc bị chi phối bởi nguyên tắc giá gốc, Trong thời gian 1997-2000, cải cách GTHL thử nghiệm được thực hiện, yêu cầu sử dụng GTHL 3 trong số 16 chuẩn mực kế toán, tuy nhiên, cải cách này đã không thành công, năm 2006, Trung Quốc ban hành bộ nguyên tắc kế toán chấp nhận chung của quốc gia, trong 38 chuẩn mực, lần đầu tiên, GTHL chính thức được công nhận là một số liệu đo lường trong khuôn mẫu khái niệm, nó được quy định 25 trong số 38 chuẩn mực, và được sử dụng tại Trung Quốc cho đến nay, câu hỏi đặt ra, làm thế nào GTHL được chấp nhận sử dụng ở Trung Quốc từ trong giai đoạn 2001-2016 và nguyên nhân của sự thành công, bằng phương pháp nghiên cứu tình huống, tác giả tổng hợp phân tích các yếu tố: quy định kinh tế, thay đổi thể chế/ tổ chức và trà lưu xã hội, kết quả phân tích dẫn đến kết luận rằng thành công của cải cách giá trị hợp lý lần thứ hai ở Trung Quốc là do sự kết hợp thành công của 3 bên: Bộ Tài Chính Trung Quốc, IASB, Ngân hàng Thế giới trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, chia sẽ lợi ích và theo đuổi các mục tiêu chung, kết quả chỉ ra rằng , ở cuộc cải cách lần 1 và 2, môi trường kinh tế đều không thay đổi đáng kể, nguyên nhân thành công FVA ở Trung Quốc chủ yếu là do yếu tố Xã hội chứ không phải là yếu tố Kinh tế.

2.5 Peter Fiechter, Zoltan Novotny-Farkas, 2013

Fair Value Categorization under IFRS, Institutional Environment, and the Value Relevance of Fair Values
Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét giá trị thỏa đáng của GTHL trong bối cảnh quốc tế, cụ thể, các học giả điều tra mở rộng các nhân tố khác cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị phù hợp của giá trị hợp lý, ngoài vấn đề đo lường GTHL theo IAS 39 Công cụ Tài chính: Ghi nhận và đo lường, tác giả cho rằng, biến toàn cầu hóa trong nhân tố thể chế đóng vai trò trong xác định giá trị phù hợp của GTHL, khả năng tiếp cận thông tin GTHL và xu hướng mức độ hành vi có khả năng thay đổi theo các yếu tố thể chế như các môi trường thông tin cấp quốc gia và mức độ phức tạp của thị trường.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê