1. Khái niệm và bản chất pháp lý của hộ kinh doanh

"Hộ kinh doanh" được gọi là "hộ kinh doanh cá thể". Tên gọi "hộ kinh doanh cá thể" được ghi nhận tại hai Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh . Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dâu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối vói hoạt động kinh doanh.Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dâù và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đôì với hoạt động kinh doanh. Bản chất cá nhân kinh doanh và dâù ân gia đình đã ngày càng mờ đi mặc dù thuật ngữ "hộ gia đình" được sử dụng trong các định nghĩa vừa dẫn.
Một số đặc điểm chính của hộ kinh doanh cá thể?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Định nghĩa trên về "hộ kinh doanh" cho thây hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập ra nó: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; và (3) hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ. Có lẽ đây là một đặc thù râ't Việt Nam. Tuy nhiên tính phù hợp hay không phù hợp của nó cần phải suy nghĩ. "Hộ gia đình" được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thểhay hộ kinh doanh như trên vừa nói có lẽ xuâ't phát từ việc Bộ luật Dân sự qui định "hộ gia đình" là chủ thể của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng. Vì vậy có nhiều vâh đề cẩn phải suy nghĩ từ đây.
Thứ hai, tập hợp các cá nhân hay các thành viên của "hộ gia đình" không dễ xác định. Dâu hiệu của một "gia đình" được thể hiện qua quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hay quan hệ nuôi dưỡng. Song "hộ gia đình" không bao gồm tất cả các thành viên có các môì quan hệ đó với nhau. Được xem là thành viên của hộ gia đình cần phải có hai điều kiện: (1) Điều kiện quan hệ (điều kiện cần), thê’ hiện qua việc hoặc có quan hệ hôn nhân, hoặc có quan hệ huyết thôhg, hoặc có quan hệ nuôi dưỡng; và (2) điểu kiện chung sông (điều kiện đủ), có nghĩa là cùng trú ngụ ở một noi hoặc cùng kiếm sôhg dựa vào cùng một sản nghiệp . Tuy nhiên số lượng các thành viên thuộc hộ gia đình có thể biến động, vì vậy gây khó khăn không ít cho việc giải quyết tranh châp có liên quan. Trong thực tiễn tư pháp và trong thực tiễn thi hành pháp luật ở các co quan hành pháp, người ta thường xác định tập hợp thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu. Đây có lẽ không phải là một việc làm họp lý bởi sự tồn tại của sổ hộ khẩu không có co sở đê’ đứng vững trong giai đoạn hiện nay. Hon nữa sổ hộ khẩu không nói lên vân đề rằng các thành viên có cùng trú ngụ hay cùng kiếm sôhg hay không. Có lẽ cần đưa vào nội dung đăng ký kinh doanh việc xác định các thành viên của hộ gia đình khi đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, bởi vâh đề xác định các thành viên như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của các chủ nợ của hộ kinh doanh.
Pháp luật Việt Nam hiện nay phân biệt hộ kinh doanh với doanh nghiệp thông qua việc sử dụng lao động. Hộ kinh doanh là một tổ chức kinh doanh sử dụng thường xuyên từ mười lao động trở xuống. Nêù sử dụng hon mười lao động thì hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Như vậy có thể hiểu, pháp luật Việt Nam hiện nay quan niệm hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì nhau vê' hình thức kết câù mà chỉ khác nhau về qui mô kinh doanh.
Pháp luật Anh quan niệm: Thương nhân đơn lẻ (sole trader) là một người tiến hành kinh doanh với tài khoản của mình; tự lựa chọn nơi thích hợp để hoạt động; có hoặc không có sự trợ giúp của người làm công trong kinh doanh; vôh góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mượn cá nhân . Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm: Doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) là một doanh thương (a business) được vận hành bởi một người như một tài sản cá nhân của người đó; và doanh nghiệp (enterprise) này là một sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân (individual owner) . Thương nhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể theo các quan niệm này là một hình thức kinh doanh có kết câu khác với các hình thức kinh doanh khác như họp danh hay các công ty. Quan niệm này hoàn toàn trùng họp với quan niệm của các luật gia Việt Nam ở các chế độ cũ. Họ xem thương nhân thể nhân là cá nhân (có hình hài, cốt nhục) kinh doanh khác biệt hẳn vói các thương nhân pháp nhân là các tổ chức hay đoàn thể được tạo lập bởi sự góp vôn của các nhà đầu tư mong muôn tìm kiếm lợi nhuận. Các tổ chức này được gọi là các công ty. Và mỗi loại công ty có những khía cạnh pháp lý riêng về thành lập và vận hành. Tuy nhiên những khía cạnh pháp lý này không có liên quan gì với thương nhân thê’ nhân . Quan niệm này phỏng theo quan niệm của Pháp vể thương nhân thể nhân. Khi nói về thương nhân theo pháp luật Pháp, người ta thường dẫn Điều 1, Bộ luật Thương mại Pháp 1807. Tại đó thương nhân có thêTà thể nhân hoặc pháp nhân. Thương nhân thê’ nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại và lây chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình. Theo hệ thống pháp luật này cá nhân trở thành thương nhân là một vân đề thực tê'được xác định bởi tòa án. Nếu tên một cá nhân xuất hiện trong Sổ đăng ký thương mại tại tòa án thương mại, thì người đó được xem là thương nhân, trừ khi có chứng cứ ngược lại .
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay hộ kinh doanh không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh. Đôi khi hộ kinh doanh có sự hùn vốn của các cá nhân bởi pháp luật cũng đã mô tả như vậy. Vì vậy nêù quan niệm hộ kinh doanh hay hộ kinh doanh cá thể là cá nhân kinh doanh hay thương nhân đơn lẻ là không hoàn toàn đúng, cần chú ý tới hộ kinh doanh được tạo lập nên bởi một cá nhân hay một hộ gia đình hay một nhóm người để đưa ra các giải pháp thích hợp. Đối vói việc giải quyết tranh châ'p vẽ hộ kinh doanh được tạo lập bởi một nhóm người, có lẽ phải xem hộ kinh doanh đó là một công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân đê’ tìm giải pháp từ nguyên tắc áp dụng tương tự. Trong trường hợp các thành viên trong nhóm có thỏa thuận cho một hay vài người chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn, thì thỏa thuận này không có hiệu lực đốì vói người thứ ba bởi sự thỏa thuận này không được công khai khi đăng ký kinh doanh.

2. Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh có các đặc điểm pháp lý sau:

2.1 Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân

Các phân tích ở trên cho thâỳ, hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản châ't là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân. Nó khác vói .công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt vói chủ sở hữu của nó. Trong khi đó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó. Mọi tài sản trong của hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo qui định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của hộ kinh doanh.
Trường họp hộ kinh doanh được tạo lập bởi hộ gia đình, thì hộ kinh doanh có bản chất là hộ gia đình kinh doanh. Do đó hộ kinh doanh cũng không phải là pháp nhân. Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay đổ dồn tâ't cả quyền lợi và gánh nặng quản trị hộ gia đình vào chủ hộ. Nhưng có một vâh đề cẩn lưu ý rằng, Trong thực tiễn tô' tụng chủ hộ kinh doanh, thậm chí một cơ sở sản xuâ't hay một cửa hàng cũng có thể trở thành nguyên đơn và bị đơn trước tòa án. Ví dụ: (1) Tại Bản án sô' 87/2007/KDTM- PT ngày 10/9/2007, Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tôi cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa sô' 01/MBND/2001 ngày 26/9/2001 giữa nguyên đơn là Công ty TNHH sản xuâ't và thương mại Gia Lợi và bị đơn là Cơ sở Thuận Lợi (sau khi có Bản án giám đô'c thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao quyết định hủy Bản án kinh tế phúc thẩm số 12/KTPT ngày 24/02/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp về hợp đổng mua bán hàng hóa giữa hai đương sự này, và giao hồ sơ vụ án cho Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân toi cao tại Thành phố Hổ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật); (2) Tại Bản án sô' 204/2006/KDTM- ST ngày 12/5/2006, Tòa án nhân dân Thành phô' Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp họp đồng mua bán giữa nguyên đơn Nguyễn Văn Nở - chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng và trang trí nội thâ't Hải Hưng và bị đơn Công ty TNHH sơn Jotun Việt Nam; (3) Tại Bản án sô' 1784/2007/KDTM-ST ngày 24/9/2007 Tòa án nhân dân Thành phô' Hổ Chí Minh xét xử vụ án tranh châ'p hợp đồng đại lý giữa nguyên đơn Nguyễn Thị Tô't - Chủ hộ kinh doanh cá thể - Nhà phân phối Phước Hiệp và bị đơn Công ty TNHH thương mại và sản xuâ't Khiêm Tín.
Hộ kinh doanh được tạo lập bởi một nhóm người cũng không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên có vân đề rắc rôì cần lưu ý rằng: Người đứng ra đăng ký kinh doanh có được xem là người đại diện đương nhiên cho nhóm tạo lập ra hộ kinh doanh hay không, hay chỉ là người đại diện cho nhóm để đăng ký kinh doanh? Câu trả lời có ý nghĩa quan trọng đôì với chê' độ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của hộ kinh doanh, vân đề tư cách tham gia tô' tụng và vân đề quản trị hộ kinh doanh. Câu trả lời phụ thuộc phần nào vào việc giải thích các qui định về thành lập và đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh mà sẽ đưỢc nói tói trong một chừng mực nhâ't định dưới đây.

2.2 Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh qui mô rất nhỏ

Đặc điểm này không xuâ't phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này mà xuất phát từ các qui định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh. Điều này gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh, và có thể trái với ý chí và khả năng kinh doanh của họ. Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp có lẽ chưa tính đêh đạc trưng của từng ngành nghề kinh doanh. Với một cửa hàng cơm bình dân con sô' người phục vụ có thể lên tới hàng chục với các công việc như nâù ăn, chạy chợ, phục vụ bàn, vệ sinh, trông xe... Các qui định trên thực châ't không cho phép hộ kinh doanh mở rộng qui mô sản xuâ't, kinh doanh, hay nói cách khác, hạn chê' kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. Như vậy quyền tự do kinh doanh phần nào đó có sự hạn chế.

2.3 Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt vói chủ nhân của nó. Nên về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đôì vói khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh. Tuy nhiên theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện nay về trách nhiệm của chủ hộ kinh doanh đô'i với các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh của hộ kinh doanh thì còn râ't nhiều vân đề phải bàn. Trước hết phải nhắc lại định nghĩa về hộ kinh doanh trong Nghị định sô' 43/2010 NĐ-CP để xác định chế độ trách nhiệm của chủ hộ kinh doanh. Định nghĩa này có nội dung chính xác như sau: "Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dâu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đôì với hoạt động kinh doanh" (Điều 49, khoản 1). Các qui định này quả thật râ't khó xác định chế độ trách nhiệm của chủ hộ kinh doanh bởi cách viết. Theo định nghĩa này, người ta có thể hiểu có năm yếu tô' để xác định hộ kinh doanh như sau: (1) Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ; (2) hộ kinh doanh chỉ được kinh doanh tại một địa điểm; (3) hộ kinh doanh sử dụng không quá mười lao động; (4) hộ gia đình không có con dâù; và (5) hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh . Về nguyên lý pháp lý khi kinh doanh, thương nhân dù là thể nhân hay pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đôi với các khoản nợ của mình. Chẳng hạn một công ty dù là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh đều phải bỏ toàn bộ tài sản của mình ra để trả nợ. Khi nói tới chê'độ trách nhiệm vô hạn, có nghĩa là nói tới việc các thành viên của công ty phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình đối với các khoản nợ của công ty mà mình làm thành viên. Vì vậy định nghĩa về hộ kinh doanh của Nghị định sô' 43/2010 NĐ-CP làm phát sinh nhiều vân đề phải bàn về chế độ trách nhiệm. Cần lưu ý rằng việc bàn luận này phải gắn chặt vói việc phân tích bản chất của hộ kinh doanh.
Nêu hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, thì người ta có thê’ qui kết ngay rằng cá nhân làm chủ đó phải chịu trách nhiệm vô hạn đối vói các khoản nợ của hộ kinh doanh ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trả nợ, bởi trong trường hợp này hộ kinh doanh có bản châ't là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thê’ nhân.
Nếu hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ, thì ngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trả nợ, việc xác định trách nhiệm của các và từng thành viên hộ gia đình cần tói các qui định của Bộ luật Dân sự 2005. Theo Bộ luật này, hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng tài sản chung của hộ; nêù tài sản chung không đủ đê’ thực hiện nghĩa vụ chung thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Như vậy hộ kinh doanh trong trường họp này rất gần với công ty hợp danh (mà sẽ được nghiên cứu sau).
Nêù hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ thì vâh đề có lẽ trở nên phức tạp hon nhiều, bởi chế độ trách nhiệm của thành viên trong nhóm không được pháp luật qui định cụ thê’ mà phụ thuộc vào sự giải thích. Nêù xem hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ là một công ty họp danh không có tư cách pháp nhân như trên đã nói thì các thành viên trong nhóm phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê