Một số hậu quả pháp lý của quan hệ sống chung như vợ chồng ? Tranh chấp tài sản khi sống chung

Vấn đề sống chung như vợ chồng ngày càng gia tăng bởi các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa, phong tục tập quán đều có ảnh hưởng nhất định, chi phối đến việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ....

1. Chung sống chung như vợ chồng sẽ để lại hậu quả gì ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Việc chung sống như vợ chồng sẽ có những rủi ro và hậu quả pháp lý như thế nào ? Mong luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể!

Một số hậu quả pháp lý của quan hệ sống chung như vợ chồng?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ở các trường hợp sống chung như vợ chồng đã nêu trên dù đúng pháp luật hay không đúng pháp luật cũng có thể gây ra một số hệ quả:

1. Đối với hai bên chung sống như vợ chồng:

Nếu như giữa hai bên tham gia vào quan hệ chung sống như vợ chồng luôn yêu thương và có một cuộc sống hạnh phúc thì có lẽ mối quan hệ này sẽ mang lại cho cả hai bên sự lạc quan, niềm vui, có thể là điều kiện để lựa chọn được người vợ chồng tốt nhất cho tương lai; không có sự ràng buộc có thể chấm dứt mối quan hệ bnayf bất kỳ lúc nào mình muốn. Tuy nhiên, nhìn chung việc sống như vợ chồng sẽ đem lại nhiêu hậu quả xấu hơn những hệ quả tích cực trên:

+ Mang lại hậu quả, nỗi đau về thể chất cho cả hai bên đặc biệt là phụ nữ: khi không có những biện pháp pháp lý bảo đảm thì khi sống chung mà người phụ nữa có thai thì sẽ không đơn giản như việc những vợ chồng lấy nhau nhằm xây dựng hôn nhân hạnh phúc, hợ pháp , lúc này rất nhiều người đi phá thai ( Việt Nam là một trong năm quốc gia có tỷ lệ phá thai nhiều nhất thế giới, cao nhất Đông Nam Á). Rồi thì ngoài những cặp nam nữ thì ở những cặp đồng giới cũng sẽ sảy ra bạo lực ra đình mà pháp luật chưa có biện pháp bảo đảm.

+ Chung sống như vợ chồng để lại nỗi đau về tinh thần cho hai bê: sau khi sống chung và chia tay họ sẽ mất niềm tin vào tình yêu, cuộc sống hôn nhân, làm mất đi danh dự, nhân phẩm của bản thân và gia đình ( Chẳng hạn: những cô gái độc thân sống như vợ chồng với người đang có vợ khi bị phát hiện sẽ làm mất giá trị của bản thân cô gái, mất danh dự của bố mẹ- người khoog muốn con gái mình như vậy..)

2. Đối với con cái:

Có những đứa trẻ sống trong gia đình tuy bố mẹ không đăng ký kết hôn nhưng yêu thương nhau thì vẫn sẽ được sống như những đứa trẻ có cha mẹ đăng ký kết hôn khác. Tuy nhiên, những đứa con có cha mẹ không có thủ tục hôn thú sẽ là người chịu nhiều tổn thương nhất; nó sẽ luôn phải đứng trước nguy cơ mất bố hoặc mẹ lúc nào đó một cách dễ dàng vì không có sự ràng buộc của pháp luật. Một số đứa trẻ chịu sự xa lánh, true trọc của bạn bè. Khi bố mẹ chúng chia tay những đứa trẻ đó sẽ không được sống một cuộc sống tốt nhất; có thể mất đi nhiều quyền lợi vì có rất nhiều trường hợp hực tế những đứa trẻ không được quan tâm, không có quyên lợi như pháp luật đã nói “con của người chung sống như vợ chông không đăng ký kết hôn có quyền lợi như con của những vợ chồng đăng ký kết hôn”

3. Đối với bên thứ ba có mối quan hệ với họ:

Việc sống chung như vợ chồng khiến cho người thứ ba nhầm tưởng họ là vợ chồng hợp pháp và trong việc vợ chồng có thể đại diện cho nhau trong một số các quan hệ mà BLDS và Luật HN&GĐ quy định. Trong khi đó, rõ ràng cả hai bên chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không pháp sinh quan hệ đại diện tương đương như vợ, chồng.

Với việc sống chung như vợ chồng với người đã có vợ, chồng hoặc cả hai bên cùng có gia đình sẽ làm mất đi quyền lợi của người vợ, chồng hiện tại.

4. Đối với nhà nước và xã hội:

+ Không phù hợp với truyền thống đạo đức, phong tục tập quán của nước ta thiên về gia đình và lối ống một vợ một chồng.

+ Làm cho xã hội có một cái nhìn tiêu cực hơn về cộng đồng; làm người ta mất dần niềm tin vào các môi quan hệ xã hội (quan hệ gia đình giữa cha, mẹ, con)- đây đều là những mối quan hệ thiêng liêng, gắn bó sâu sắc máu thịt nhất trong cuộc đời mỗi con người.

+ Ảnh hưởng đến ý thức chấp hành chung của toàn xã hội

+ Khi không có chế định bảo đảm nhiều về quyên và lợi ích liên quan sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng xã hội, những đứa trẻ sinh ra không được chăm sóc tận tình trong vòng tay yêu thương của gia đình sẽ không được phát triển tốt nhất, nhiều tệ nạn như: ma túy,mại dâm, phá thai …gây mất ổn định xã hội.Với quan hệ nhân thân

Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.

Tức là sẽ không tồn tại quan hệ nhân thân, không được pháp luật công nhận nên không được pháp luật bảo vệ quyền và nghĩa vụ như vợ chồng ( có thể dưới góc độ của hợp đồng dân sự). Chính vì không có cơ chế bảo vệ mối quan hệ này nên quyền lợi của các bên dễ dàng bị xâm phạm.

5. Đối với quan hệ tài sản:

Điều 16 Luật HN&GĐ 2014 quy định:

“ Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hơp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên qua...”.

Như vậy, nhà làm luật ưu tiên quan hệ tài sản trong trường hợp này. Bởi, như đã nhận định, đây trước hết là quan hệ dân sự và vì vậy cần tôn trọng

Quy định của pháp luật đã đồng thời đảm bảo được sự tôn trọng và thỏa thuận giữa các bên lồng ghép bình đẳng giới. Pháp luật thiên về bảo vệ phụ nữ và trẻ em nên sẽ có nhưng quy định chia tài sản sẽ thiên về người phụ nữ.

6. Với quan hệ cha, mẹ với con:

Với chủ trương không làm ảnh hưởng đến việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ giữa cha, mẹ, con nên hững người chung sống với nhau như vợ chồng mà có con thì các quyên, nghĩa vụ như với vợ chồng nhằm đảm bảo quyền, lợi, sự phát triển bình thường của đứa con tùy vào tuổi đứa trẻ, hoàn cảnh của bố mẹ

Như vậy, nhà nước ta cần có những giải pháp xử lý thực trạng sống chung như vợ chồng bằng các biện pháp phù hợp. Với pháp luật thì hạn chế tạo lỗ hổng để thực trạng này suy giảm nhằm ổn đình xã hội.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

2. Giải quyết tranh chấp tài sản khi chung sống như vợ chồng ?

Thưa luật sư, xin Luật sư cho em hỏi: Khi nam và nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì tài sản được tặng cho ( tài sản nhận được khi làm đám cưới, trong thời gian chung sống) sẽ được giải quyết như thế nào ?

Em cảm ơn !

Trả lời:

Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về: Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Theo đó, đối với trường hợp của bạn, tái sản được tặng cho khi làm đám cưới và thời gian chung sống sẽ được giải quyết theo thỏa thuận của hai người, trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo BLDS và pháp luật liên quan.

3. Sống chung như vợ chồng muốn lấy vợ mới có được không ?

Cho tôi hỏi chúng tôi lấy nhau nhưng không đăng ký kết hôn, sau 1 thời gian chung sống với nhau chúng tôi không ở được với nhau. Chúng tôi có 1 đứa con đứa con chung nhưng chưa có giấy khai sinh. Vậy luật sư cho tôi hỏi: tôi có thể đi lấy vợ và vợ tôi có thể đi lấy chồng mà không cần giải quyết của pháp luật được không? Khi đó cơ quan như xã phường có cấp cho tôi được giấy kết hôn khi tôi đi lấy vợ không ?

Rất mong sự giúp đỡ của Văn phòng luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Giải quyết tài sản khi nam nữ chung sống như vợ chồng ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân về sống chung như vợ chồng, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào quy định tại khoản 5 điều 3 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về kết hôn đúng theo quy định của pháp luật như sau:

"5. Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn".

Căn cứ vào quy định này thì khi các bên đủ điều kiện kết hôn: đáp ứng về độ tuổi, đáp ứng về hai bên tự nguyện tiến đến hôn nhân, không nằm trong phạm vi ba đời thì hoàn toàn có thể kết hôn và phải đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cuộc hôn nhân của bạn mới được xem là hợp pháp. Trong trường hợp này, nếu như vợ chồng bạn mà không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì vợ chồng bạn sẽ không được xem là vợ chồng hợp pháp.

Như vậy, về mặt pháp lý thì vợ chồng bạn vẫn là người độc thân, do đó, vợ chồng bạn nếu như muốn chia tay thì hoàn toàn có thể đăng ký kết hôn với người khác. Còn về con chung và tài sản sẽ do các bên tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì một trong hai bên có thể nhờ Tòa án giải quyết.

Những điều cần lưu ý: Trong trường hợp vợ bạn chứng minh được đứa con này là con chung của hai người thì nếu vợ bạn mà nuôi con thì bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đứa con này.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn thủ tục ly hôn khi không đăng ký kết hôn ?

4. Có được đăng ký kết hôn không khi đã sống chung như vợ chồng với người khác?

Kính chào các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Khuê. Tôi có câu hỏi mong Luật sư trả lời. Tôi có em gái năm nay 30 tuổi, năm 25 tuổi có tổ chức đám cưới với một người đàn ông chưa có vợ hơn 1 tuổi tên là X mà không làm giấy kết hôn, chung sống với nhau được 3 năm thì chia tay. Trong quá trình chung sống hai người không có con và không có tài sản chung. Từ khi chia tay đến nay hai người không liên lạc với nhau, hiện nay em tôi có quen một người đàn ông khác tên A và dự tính kết hôn với người này.

Vậy xin Luật sư tư vấn giúp tôi là em gái tôi có được phép kết hôn với A không và nếu không được thì làm thủ tục gì để em gái tôi có thể kết hôn được với A ?

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư

- Doan Nguyen

Có được đăng ký kết hôn không khi đã sống chung như vợ chồng với người khác?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo khoản 7 điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng".

Việc em gái bạn sống chung với X được coi là chung sống với nhau như vợ chồng và không chịu sự điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, em gái bạn hoàn toàn có quyền kết hôn với A nếu cả 2 bên đủ điều kiện kết hôn được quy định tại điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Có thể hiểu điều kiện kết hôn như sau:

Thứ nhất, độ tuổi được phép kết hôn: Nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, nam từ đủ 20 tuổi trở lên. Trong trường hợp này, em gái bạn 30 tuổi, đủ tuổi được phép kết hôn. Vì vậy, yêu cầu A phải từ đủ 20 tuổi trở lên, trong trường hợp A dưới 20 tuổi, ví dụ: 19 tuổi + 1 ngày thì em gái bạn và A cũng không đủ điều kiện để kết hôn.

Thứ hai, việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định: Việc đăng kí kết hôn của em gái bạn và A phải do 2 người tự nguyện quyết định, không phụ thuộc vào ý chí hay sự quyết đoán của bất kì bên thứ ba nào.

Thứ ba, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Nghĩa là em gái bạn và A đều có năng lực hành vi dân sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của bản thân. Không vi phạm theo quy định tại điều 22 Bộ luật Dân sự 2015

Điều 22: Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Thứ tư, việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật: Việc kết hôn giữa A và em gái bạn không nằm trong các trường hợp cấm kết hôn như sau:

Điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Trên đây là tư vấn của Luật sư Công ty Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

5. Tư vấn chung sống như vợ chồng trái pháp luật ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau:

1. Trong trường hợp vi phạm luật hôn nhân, biết người mình đang chung sống đã có vợ nhưng vẫn giữ mối quan hệ thì có bị phạt không?

2. Người vợ có được toàn quyền nuôi con không? (2 trẻ > 36 tháng tuổi rồi và thu nhập của người vợ không bằng chồng)

Xin cảm ơn Luật sư!

Người gửi: Phan Khánh Chi

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân về sống chung, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Xử phạt hành vi vi phạm luật hôn nhân

Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CPược sửa đổi bởi Khoản 35 Điều 1 Nghị định 67/2015/NĐ-CP) Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng việc ly hôn để vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để trốn tránh nghĩa vụ tài sản."

Như vậy, theo quy định trên thì người chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ và người đang có vợ mà chung sống như vợ chồng với người khác thì đều bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với mỗi hành vi.

2. Quyền nuôi con sau ly hôn:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

"1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, về nguyên tắc thì việc nuôi con nếu con trên 03 tuổi sẽ do vợ, chồng tự thỏa thuận và dựa trên mong muốn của con (con từ 07 tuổi trở lên). Trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét và quyết định sau khi đã căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con như: điều kiện về vật chất, tinh thần, nhân phẩm, đạo đức, môi trường, học tập.... Như vậy, để được toàn quyền nuôi con thì khi ra Tòa bạn phải chứng minh được ngoài thu nhập thấp hơn chồng thì bạn hoàn toàn có các điều kiện khác tốt hơn để đáp ứng tốt nhất quyền lợi cho con. Sau đó, Tòa án sẽ xem xét và ra quyết định con sẽ do ai nuôi dưỡng.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

5 sao của 1 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Dịch vụ nổi bật