1. Bắt người phạm tội quả tang

Bắt người phạm tội quả tang được quy định cụ thể tại Điều 111, Bộ luật Hình sự 2015:

Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

⇒ Đối với việc bắt người phạm tội quả tang thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có 03 trường hợp được bắt người phạm tội quả tang sau đây:

- Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện:

Việc đang thực hiện tội phạm là trường hợp phạm tội quả tang thường gặp trong thực tế. Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc chưa kết thúc việc phạm tội thì bị phát hiện.

Trong trường hợp hành vi đang thực hiện một tội phạm có cấu thành hình thức thì mặc dù hậu quả vật chất chưa xảy ra vẫn coi là hành vi đang thực hiện tội phạm.

Đối với những tội phạm mà hành vi phạm tội được thực hiện trong một khoảng thời gian dài, không bị gián đoạn như tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tội tàng trữ trái phép chất nổ, chất độc, chất cháy, chất phóng xạ… thì trong suốt thời gian đó bị coi là đang thực hiện tội phạm. Vì vậy, thời điểm nào tội phạm bị phát giác cũng là phạm tội quả tang.

- Ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện:

Khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện là trường hợp kẻ phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong chưa kịp chạy trốn hoặc đang cất giấu công cụ, phương tiện, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị phát hiện.

Một điều cần lưu ý để bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này phải có chứng cứ chứng minh là kẻ đó vừa gây tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tội phải xảy ra tức thời sau khi tội phạm được thực hiện. Thông thường, các vật chứng (còn gọi là tang vật) mà người phạm tội chưa kịp cất giấu, tẩu tán là những bằng chứng khiến kẻ phạm tội không thể chối cãi về hành vi phạm tội của mình vừa thực hiện xong. Nhưng trong các trường hợp không có vật chứng, sự có mặt của những người làm chứng cũng cho phép được bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này.

- Đang bị đuổi bắt:

Trong trường hợp phạm tội quả tang này thì người phạm tội vừa thực hiện tội phạm xong hoặc đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt.

Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội tránh bắt nhầm phải người không thực hiện tội. Nếu như việc đuổi bắt bị gián đoạn về thời gian so với hành vi chạy trốn thì không được bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp.

2. Bắt người đang bị truy nã

Bắt người đang bị truy nã là trường hợp bắt người đang bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã. Người bị truy nã là người đã thực hiện tội phạm, đã bị khởi tố bị can hoặc người đã có quyết định của Tòa án đưa ra xét xử đang bỏ trốn hoặc không biết họ đang ở đâu.

Bắt người đang bị truy nã được quy định tại Điều 112, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Đối tượng truy nã:

Đối tượng bị bắt trong trường hợp này là người bị truy nã. Người bị truy nã là bắt người trước đây đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam. Họ là bị can, bị cáo tại ngoại nhưng trốn tránh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đối với họ cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã. Và bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã đến Cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.

Về thẩm quyền bắt người đang bị truy nã:

Để phát huy tính tích cực của quần chúng trong cuộc đấu tranh chống tội phạm, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tính mạng, sức khỏe và các lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 quy định bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người đang bị truy nã.

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

3. Nguyên tắc áp dụng biện pháp bắt người đang bị truy nã

- Nguyên tắc truy nã đúng người, Cơ quan, chủ thể có thẩm quyền phải thông báo đúng hành vi phạm tội của người lẩn trốn;

- Nguyên tắc khi bắt người đang bị truy nã phải thận trọng, chính xác, linh hoạt và an toàn, nếu phát hiện sai phải sửa ngay;

- Nguyên tắc quyết định truy nã phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh;

- Nguyên tắc khi bắt được đối tượng hoặc đối tượng đã chết, đã đầu thú, đã được thanh loại, cơ quan đó phải ra quyết định đình nã và gửi tới những nơi đã gửi quyết định truy nã;

- Nguyên tắc nghiêm cấm dùng quyết định truy nã thay lệnh bắt người trong những trường hợp khác;

- Nguyên tắc sử dụng tổng hợp sức mạnh các lực lượng, các tổ chức, các ngành và công dân trong công tác truy nã tội phạm.

Đặc điểm của biện pháp bắt người đang bị truy nã: Mặc dù mang những đặc điểm chung của hoạt động điều tra tội phạm nhưng hoạt động truy nã tội phạm còn mang những đặc điểm riêng là:

- Biện pháp bắt người đang bị truy nã được tiến hành công khai, thông báo cho mọi công dân biết nhưng trong tổ chức công tác truy nã phải sử dụng các hoạt động nghiệp vụ bí mật;

- Chỉ tiến hành bắt người đang bị truy nã sau khi đã xác định hành vi phạm tội và những yếu tố cơ bản về đặc điểm, nhân thân đối tượng;

- Bắt người đang bị truy nã là công việc nguy hiểm, phức tạp đòi hỏi tính tổ chức kỷ luật cao;

- Khi phát hiện chính xác đối tượng có quyết định, lệnh truy nã mọi công dân đều có quyền bắt giữ.

4. So sánh quy định bắt người phạm tội quả tang và bắt người bị truy nã

- Giống nhau:

Bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Người bắt cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt. Cả hai biện pháp đều không quy định trình tự, thủ tục bắt. Vì tính chất tội phạm đặc biệt, cần bắt ngay để ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra, gây nguy hại cho người dân. Được bắt người vào ban đêm.

- Khác nhau:

+ Bắt người phạm tội quả tang: áp dụng đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc người sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt; Sau khi giữ người trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

+ Bắt người đang bị truy nã: áp dụng đối với người đang bị truy nã theo Quyết định truy nã của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Sau khi lấy lời khai người bị bắt theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã. Trường hợp người bị bắt có nhiều quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã nơi gần nhất.

5. Điểm mới trong quy định bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã

Bộ luật TTHS 2015 đã tách trường hợp bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã trong Điều 82 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành hai điều luật độc lập. Sự thay đổi này thể hiện sự tiến bộ hơn về nhận thức và kỹ thuật lập pháp bởi lẽ hai trường hợp này áp dụng với hai đối tượng khác nhau, cơ sở pháp lý khác nhau. Bắt người phạm tội quả tang (Điều 111) cụ thể hóa quy định của khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013. So với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, trong cả hai trường hợp này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung thẩm quyền của Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an trong trường hợp chủ thể này phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã: thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Những người khác thực hiện bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã không có quyền hạn này mà có nghĩa vụ dẫn giải người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát và ủy ban nhân dân nơi gần nhất để giao.

Điều 114 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy định trường hợp cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị truy nã đã bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết; nếu đã hết thời hạn tạm giữ mà cơ quan ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi ngay quyết định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trường hợp người bị bắt có nhiều quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã nơi gần nhất.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)