1. Tập quán về hôn nhân và gia đình là gì? Thế nào được coi là tập quán lạc hậu?

Theo Khoản 4 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Tập quán về hôn nhân và gia đình có thể được hiểu là những quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.

Như vậy tập quán là những thói quen, xuất hiện từ lâu đời, được lặp đi lặp lại và được thừa nhận rộng lớn trong một phạm vi nhất định. Thế nhưng theo thời gia, sẽ có những tập quán không còn phù hợp, nó mang tính lỗi thời, lạc hậu, cổ hủ có khả năng cao làm xã hội bị trì trệ, chậm phát triển. Do vậy không phải tập quán nào cũng tốt, không phải tập quán nào cũng giúp con người phát triển, giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Như vậy, nếu tập quán đó mang màu sắc cổ hủ, là vật cản để phát triển, xâm phạm đến quyền và lợi ích của con người thì đó là những tập quán lạc hậu cần được bài trừ, loại bỏ.

 

2. Một số tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình

Theo quy định của pháp luật hiện hành một số tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình được cụ thể hóa tại Danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình cấm áp dụng hoặc cần vận động xóa bỏ quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình. Cụ thể:

2.1. 07 Tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình cấm áp dụng

- Chế độ hôn nhân đa thê.

- Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời.

- Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ.

- Thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới).

- Phong tục “nối dây”; Khi người chồng chết, người vợ góa bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi người vợ chết, người chồng góa bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của người vợ quá cố.

- Bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ.

- Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn.

Ngoài ra, các tập quán lạc hậu sau đây cần vận động xóa bỏ: Kết hôn trước tuổi quy định; Việc đăng ký kết hôn không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện; Cưỡng ép kết hôn do xem “lá số” và do mê tín dị đoan; cản trở hôn nhân do khác dân tộc, tôn giáo; Cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên; Nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ; Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái; Không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo.

2.2. Danh mục tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình cần vận động xóa bỏ

- Kết hôn trước tuổi quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Việc đăng ký kết hôn không do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.

- Cưỡng ép kết hôn do xem “lá số” và do mê tín dị đoan; cản trở hôn nhân do khác dân tộc, tôn giáo.

- Cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ bốn đời trở lên.

- Nếu nhà trai không có tiền cưới và đồ sính lễ thì sau khi kết hôn, người con rể buộc phải ở rể để trả công cho bố, mẹ vợ.

- Quan hệ gia đình theo chế độ phụ hệ hoặc mẫu hệ, không bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái.

  • Chế độ phụ hệ:

+ Khi ly hôn, nếu do người vợ yêu cầu ly hôn thì nhà gái phải trả lại nhà trai toàn bộ đồ sính lễ và những phí tổn khác; nếu do người chồng yêu cầu ly hôn thì nhà gái vẫn phải trả lại nhà trai một nửa đồ sính lễ. Sau khi ly hôn, nếu người phụ nữ kết hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì. Sau khi cha, mẹ ly hôn, con phải theo cha.

+ Khi người chồng chết, người vợ góa không có quyền hưởng phần di sản của người chồng quá cố để lại. Nếu người vợ góa tái hôn với người khác thì không được hưởng và mang đi bất cứ tài sản gì.

+ Khi người cha chết, chỉ các con trai có quyền còn các con gái không có quyền hưởng phần di sản của người cha quá cố để lại.

  • Chế độ mẫu hệ:

+ Người con bị bắt buộc phải mang họ của người mẹ.

+ Khi người vợ chết, người chồng góa không có quyền hưởng phần di sản của người vợ quá cố để lại và không được mang tài sản riêng của mình về nhà.

+ Khi người mẹ chết, chỉ các con gái có quyền còn các con trai không có quyền hưởng phần di sản của người mẹ quá cố để lại.

+ Sau khi ở rể, người con rể bị “từ hôn” hoặc sau khi ăn hỏi, nhận đồ sính lễ, người con trai bị “từ hôn” thì không được bù trả lại.

- Không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo.

 

3. Điều kiện áp dụng tập quán hợp pháp. Khi nào được áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình?

3.1. Điều kiện áp dụng tập quán hợp pháp

Tuy tập quán không mang giá trị ràng buộc và chỉ được thực hiện khi các bên có sự thỏa thuận, nhưng không phải lúc nào tập quán cũng được áp dụng, tập quán chỉ được áp dụng hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện của pháp luật hiện hành. Căn cứ tại Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Dân sự 2015, điều kiện để áp dụng tập quán là: 

- Các bên không có thoả thuận.

- Pháp luật không quy định.

Nếu có hai điều kiện nêu trên, các bên có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán này phải không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật gồm:

- Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được phân biệt đối xử trong bất kỳ trường hợp và lý do nào cũng như được pháp luật bảo hộ về quyền nhân thân, tài sản như nhau.

- Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình thực hiện trên tinh thần tự nguyện, tự do thoả thuận, cam kết. Tuy nhiên, thoả thuận, cam kết của các bên phải không được trái luật, đạo đức xã hội.

- Việc thực hiện, chấm dứt quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân phải thực hiện một cách thiện chí, trung thực, không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng cũng như của cá nhân, pháp nhân khác.

- Với việc thực hiện hay không thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự của mình, cá nhân, pháp nhân đều phải tự chịu trách nhiệm.

3.2. Khi nào được áp dụng tập quán về hôn nhân, gia đình

Theo khoản 1 Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện sau: 

- Pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận;

- Tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc và không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình.

Chính vì vậy, khi giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình có áp dụng tập quán sẽ xuất hiện hai trường hợp như sau:

- Trường hợp 1: giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình có áp dụng tập quán thì thực hiện việc hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, khuyến khích sự tham gia hòa giải của người có uy tín trong cộng đồng, chức sắc tôn giáo.

- Trường hợp 2: hòa giải không thành hoặc vụ, việc hôn nhân và gia đình có áp dụng tập quán không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở thì Tòa án giải quyết vụ, việc đó theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Hy vọng với những thông tin chia sẻ trên đây Luật Minh Khuê đã giúp các bạn thêm những thông tin về tập quán, quy định của pháp luật liên quan đến tập quán, đặc biệt là những tập quán đang cần phải được loại trừ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Nếu còn bất kỳ băn khoăn nào hay cần giải đáp, tư vấn về vấn đề pháp lý nào đó bạn có thể liên hệ tới hệ thống chăm sóc khách hàng hoặc liên hệ tới email lienhe@luatminhkhue.vn hay số hotline 1900.6162 của Luật Minh Khuê để được giải đáp kịp thời, nhanh chóng nhất.