1. Khái niệm và một số loại hợp đồng mẫu

1.1 Khái niệm

Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người với người liên quan đến quan hệ tài sản trong đời sống hằng ngày. Các quan hệ ấy không chỉ hình thành trong lĩnh vực dân sự mà còn cả trong các lĩnh vực khác của xã hội. Một loại hợp đồng tiêu biểu trong thương mại là hợp đồng mẫu (hợp đồng theo mẫu). Pháp luật của các quốc gia có nhiều định nghĩa về khái niệm này:

Tại Pháp, Jacques Ghestin – Giáo sư nổi tiếng chuyên ngành luật nghĩa vụ của pháp tại Đại học Paris I Panthe’on – Sorbonne đưa ra một định nghĩa cũng tương tự như vậy: “Hợp đồng theo mẫu có thể được định nghĩa là sự tham gia vào một hợp đồng mẫu sẵn, được soạn thảo đơn phương của một bên, bên kia gia nhập vào và không có khả năng thay đổi nội dung của hợp đồng.

Pháp luật Hàn Quốc có quy định: “Cụm từ “Hợp đồng theo mẫu” được hiểu là một loại hợp đồng bao gồm các điều khoản, điều kiện – bất kể phạm vi, thể loại hay tên gọi của chúng thế nào – được một bên chuẩn bị trước dưới 1 hình thức nhất định, với mục đích giao kết hợp đồng với nhiều đối tác khác nhau”.

 Tại Việt Nam, hợp đồng mẫu được xếp vào một phân loại của hợp đồng nói chung, được định nghĩa trong BLDS 2015 và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Cụ thể, điều 405 BLDS 2015 chỉ ra:

“ Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra.

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, mỗi cách nhìn nhận về hợp đồng của các quốc gia đều có các đặc trưng riêng thì ta có thể hiểu hợp đồng  mẫu là loại hợp đồng giao kết giữa các bên và có sẵn, được sử dụng nhiều lần dựa vào loại hợp đồng và mục đích sử dụng trên tinh thần tự nguyện chấp nhận với các điều khoản mà bên đề nghị đưa ra trong khoảng thời gian được các bên thỏa thuận để chấp thuận giao kết hợp đồng để phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.

 

1.2. Một số loại hợp đồng mẫu

- Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt

- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

- Hợp đồng cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách đường sắt

- Hợp đồng cung cấp nước sinh hoạt

- Hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền

- Hợp đồng cung cấp dịch vụ thông tin di động mặt đất (hình thức thanh toán: trả sau, trả trước)

- Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lí chung cư cung cấp

 

2. Những đặc trưng cơ bản của hợp đồng mẫu.

2.1. Sự thoả thuận

Bản chất của hợp đồng nói chung nghiêng về sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền của các bên. Trong đó, ý chí là nguyên liệu, sự ưng thuận là một quá trình để “chế biến” nguyên liệu đó để đi đến hình thành một hợp đồng hạn chế tối đa rủi ro hay tranh chấp phát sinh.

Tuy nhiên, so những loại hợp đồng khác, hợp đồng mẫu không thể được giải thích bằng cách dựa vào ý chí chung của các bên giao kết. Nguyên tắc tự do khế ước trong loại giao kết hợp đồng này chỉ mang tính hình thức, sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng bị hạn chế. Sự thoả thuận trong hợp đồng theo mẫu đã không diễn ra hoàn chỉnh, gần như chỉ mang tính chất lí thuyết hơn là thực tiễn. Điển hình như trong trường hợp trong quan hệ của người tiêu dùng với nhà kinh doanh, cung cấp. Thông thường, người tiêu dùng đồng ý tất cả hoặc không đồng ý (take it or leave it) các điều khoản do nhà kinh doanh đặt ra. Họ chỉ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia vào giao dịch như vậy. Điều này không có nghĩa rằng hợp đồng mẫu phủ nhận ý chí của một bên mà ý chí của hai bên vẫn được thể hiện trong hợp đồng, nhưng rất ít khả năng thỏa thuận được các điều khoản có lợi hơn. Chỉ có quá trình đàm phán, thảo luận đi đến ràng buộc pháp lí của một hợp đồng là không tồn tại, vì vậy sự thỏa thuận của các bên khi giao dịch thông qua hợp đồng mẫu chỉ mang tính hình thức.

 

2.2. Chủ thể và mục đích giao kết

Xuất phát từ tính ứng dụng thực tế của hợp đồng mẫu thường sử dụng trong các giao dịch giữa tổ chức cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng. Vì vậy, yếu tố chủ thể và mục đích giao kết của hợp đồng được xác định như sau:

Về chủ thể trong giao dịch, bên A của hợp đồng có thể là các cá nhân, tổ chức kinh doanh, những người tham gia giao dịch với mục đích lợi nhuận. Với họ, tham gia những giao dịch thương mại này cũng là một công việc, một nghề nghiệp. Trong khi đó, bên còn lại trong hợp đồng mẫu là người tiêu dùng. Các cá nhân, tổ chức, pháp nhân, hộ gia đình đều có thể tham gia vào giao dịch nếu họ thỏa mãn các điều kiện quy định.

Về mục đích giao kết, bên soạn thảo hợp đồng theo mẫu rõ ràng có mục đích sinh lợi và bên cùng kí kết hợp đồng này sẽ chỉ mong muốn được đáp ứng, thoả mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng mà không phải là mục đích lợi nhuận.

Cùng với sự khác biệt về yếu tố thỏa thuận của loại hợp đồng này, xét trong quan hệ hợp đồng có thể thấy rõ sự chênh lệch vị thế giữa các bên của hợp đồng theo mẫu. Nếu như nhà kinh doanh mong muốn, họ hoàn toàn có thể làm các khâu chuẩn bị soạn thảo hợp đồng nhằm tối đa hóa lợi ích trong từng điều khoản. Trong khi đó, người tiêu dùng tham gia vào giao dịch với mong muốn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt. Vấn đề bất cân xứng vị thế trong giao kết cũng phân biệt hợp đồng mẫu với các loại hợp đồng khác.

 

2.3. Tính chất của hợp đồng

Tên gọi của loại hợp đồng này đã thể hiện tính chất của nó: “theo mẫu”. Điều này được thể hiện thông qua các điều khoản trong hợp đồng đã được soạn sẵn, tiêu chuẩn hóa của một bên trong giao kết mà không có sự thương lượng giữa 2 bên (non-negotiable). Những điều khoản soạn sẵn này được gọi là các điều kiện thương mại hay điều kiện giao dịch chung. Tính chất này phù hợp với mục đích của chủ thể đề ra khi giao kết với nhiều người và có thể sử dụng trong nhiều lần giao dịch cùng một loại. Vì vậy, nói đến pháp luật về hợp đồng mẫu là nói đến các điều khoản hợp đồng soạn sẵn.

 

3. Quy định về điều kiện giao dịch chung của hợp đồng mẫu.

Nghị định 99/2011/NĐ-CP (27/10/2011) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đưa ra một số quy định về điều kiện giao dịch chung của hợp đồng mẫu (từ điều 7 đến điều 16)

Để có thể áp dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ phải hoàn thành đăng ký theo quy định điều 14 nghị định này. Trường hợp các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh trở lên phải đăng ký với Bộ Công thương và với sở công thương nếu có phạm vi áp dụng trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Về trình tự thực hiện như sau

Bước 1: Gửi hồ sơ

 Hồ sơ đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung bao gồm các tài liệu sau: Đơn đăng ký theo mẫu của bộ Công thương, nêu rõ địa chỉ, ngành nghề kinh doanh của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; Dự thảo hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

Về hình thức, hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và đảm bảo: ngôn ngữ (tiếng Việt), nội dung rõ ràng, dễ hiểu,...

Tổ chức cá nhân gửi hồ sơ cho cơ quan có thầm quyền ( Bộ công thương/ sở công thương) theo các cách sau : gửi trực tiếp, gửi bằng bưu điện hoặc gửi bằng phương tiện điện tử

Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ

Khi hồ sơ được gửi trực tiếp thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ sẽ lập biên bản tiếp nhận, ngày tiếp nhận hồ sơ là ngày ghi trong biên bản tiếp nhận.

Khi hồ sơ được gửi bằng bưu điện thì ngày tiếp nhận hồ sơ được tính theo dấu của bưu điện.

Khi hồ sơ được gửi bằng phương tiện điện tử thì thời điểm tiếp nhận hồ sơ được tính từ thời điểm xác nhận bằng thông điệp điện tử của cơ quan có thẩm quyền đăng ký được gửi đi.

Bước 3: Cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định hồ sơ

Bộ công thương/ sở công thương sẽ xem xét, thẩm định hồ sơ đăng ký.

Trường hợp hồ sơ đăng ký không đầy đủ thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận, Bộ công thương/ sở công thương có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ đăng ký. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bổ sung hồ sơ, tài liệu trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của Bộ công thương/ sở công thương.

Bộ công thương/ sở công thương tiến hành xem xét hồ sơ đăng ký kể từ thời điểm nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trong quá trình xem xét hồ sơ đăng ký, Bộ công thương/ sở công thương có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh giải trình các vấn đề liên quan đến nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung; có quyền tham vấn ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Chậm nhất sau 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ công thương/ sở công thương có trách nhiệm ra thông báo về việc chấp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung và gửi cho tổ chức, cá nhân kinh doanh.   

Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thì Sở Công Thương phải gửi văn bản trả lời cho tổ chức, cá nhân kinh doanh trong đó nói rõ lý do không chấp nhận.

 

Bước 4: Tổ chức, cá nhân kinh doanh nhận kết quả của Bộ công thương/ sở công thương.

Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được công bố công khai và lưu trữ trên trang thông tin điện tử của Bộ công thương/ sở công thương.

Khi thay đổi nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải đăng ký lại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Thủ tục đăng ký lại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được thực hiện như đăng ký lần đầu theo quy định của nghị định này.