Mục lục bài viết
1. Quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực tài chỉnh
1.1 Quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực tài chỉnh
Nghiên cứu các vấn đề về tài chính trong một doanh nghiệp nói chung là tìm hiểu các nội dung liên quan đến việc huy động và phân bổ các nguồn vốn nhằm đáp ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp tư nhân có mối lệ thuộc, gắn bó với chủ doanh nghiệp, nên các vấn đề về tài chính trong doanh nghiệp tư nhân bị chi phối rất nhiều vào quyền quyết định của chủ doanh nghiệp.
.png)
>> Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Trong doanh nghiệp tư nhân, pháp luật không đặt ra nghĩa vụ phải chuyển giao quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân, vấn đề tách bạch tài sản trong doanh nghiệp tư nhân không được đặt ra. Nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp đầu tư và đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Đây cũng chính là một trong các nghĩa vụ chung của doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020. Quy định này nhằm bảo đảm cơ chế giám sát của Nhà nước và xã hội được thực hiện thông qua kiểm soát hoạt động tài chính trong doanh nghiệp.
1.2 Chủ doanh nghiệp có quyền chủ động trong kê khai vốn đầu tư
" Chủ doanh nghiệp có quyền chủ động trong kê khai vốn đầu tư và có quyền chủ động sử dụng vốn đầu tư một cách linh hoạt theo yêu cầu kinh doanh và nhu cầu bản thân. Chủ doanh nghiệp có quyền đầu tư thêm hoặc rút lại một phần vốn đã đầu tư cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư thể hiện quy mô kinh doanh và trong một chừng mực nhất định thể hiện sự thay đổi năng lực tài chính, khả năng bảo đảm nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp với các chủ thế có liên quan, nên pháp luật quy định việc tăng giảm vốn đầu tư phải được ghi chép đầy đủ trong sổ sách kế toán, và nếu giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn mức vốn đầu tư đã đăng ký thì chỉ được giảm sau khi đã đăng với cơ quan đăng ký kinh doanh ... trường hợp tăng, giảm vốn đầu tư đã đăng ký, chủ doanh nghiệp tư nhân phải gửi thông báo về việc thay đồi vốn đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đã đăng ký. Chế tài xử lý trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân vi phạm nghĩa vụ trên:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, Sđd, tr.93."
2. Quyền và nghĩa vụ trong việc cho thuê doanh nghiệp
Một cách khái quát thì việc đi thuê doanh nghiệp tư nhân là thuê cơ sở kinh doanh của người khác để làm ăn. Xét về ý nghĩa kinh tế đối với việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân thì hoạt động cho thuê doanh nghiệp tư nhân đem lại lợi ích cho cả hai bên. Bên thuê sẽ tận dụng tất cả những gì thuộc về doanh nghiệp tư nhân để khai thác tìm kiếm lợi nhuận, điều mà các nhà đầu tư thường phải mất rất nhiều công sức thời gian để gầy dựng. Với việc thuê doanh nghiệp tư nhân của người khác, nhà kinh doanh sẽ dễ dàng giảm chi phí gia nhập thị trường, đặc biệt là đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, rút ngắn giai đoạn đầu tư phát triển doanh nghiệp. Từ phía chủ doanh nghiệp tư nhân thì họ có thể kiếm lợi nhuận thông qua việc cho thuê doanh nghiệp của mình mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh.
Cho thuê doanh nghiệp được hiểu là việc chủ doanh nghiệp tư nhân chuyển giao quyền sử dụng doanh nghiệp tư nhân do mình đăng ký cho người khác trong một thời gian nhất định thông qua hợp đồng cho thuê doanh nghiệp và thu một khoản tiền do người thuê trả. Điều 186 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định về quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp tư nhân của chủ doanh nghiệp. Theo đó, cơ sở pháp lý để xác lập mối quan hệ giữa bên thuê và bên cho thuê doanh nghiệp là hợp đồng cho thuê doanh nghiệp, những vấn đề liên quan đến thời gian thuê, lợi nhuận... và các điều khoản bảo đảm khác của hợp đồng sẽ do hai bên thỏa thuận.
Trong quá trình hợp đồng thuê doanh nghiệp có hiệu lực, bên thuê có quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc, các cơ sở vật chất khác... Bên cạnh tài sản hữu hình, trên thực té người thuê còn quan tâm đến tài sàn vô hình hay các giá trị phi vật chất khác của doanh nghiệp như uy tín đã có trên thường trường, đầu mối giao dịch, mạng lưới bán hàng... Vì vậy mà họp đồng thuê tài sản với hợp đồng thuê doanh nghiệp tư nhân có một số điểm khác biệt cơ bản. về đối tượng của hợp đồng: một bên là tài sản thuần túy, còn họp đồng thuê doanh nghiệp tư nhân có đối tượng đặc biệt hơn là chính doanh nghiệp tư nhân (bên cạnh tài sản trong doanh nghiệp tư nhân, người thuê còn thuê có quyền sử dụng tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân). Trong thòi gian cho thuê, thường thì chủ sở hữu của tài sản không có trách nhiệm đối với tài sản cho thuê. Trong thời gian cho thuê doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, về mục đích, việc thuê doanh nghiệp tư nhân để phục vụ cho các mục đích kinh doanh (xuất phát từ bản chất của doanh nghiệp nói chung), còn các loại hợp đồng thuê tài sản thông thường thì người thuê có thể sử dụng tài sản đó vào nhiều mục đích khác nhau.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp nhưng để bảo đảm tính pháp lý của hợp đồng cho thuê doanh nghiệp và tính hợp pháp của việc chuyển giao quyền sử dụng doanh nghiệp cho bên thuê thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản, kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực thi hành. Quy định này nhằm cập nhật kịp thời thông tin về doanh nghiệp và giúp cho cơ quan thuế xác định đúng, thu đủ các khoản thuế và nghĩa vụ tài chính đối với các đối tượng liên quan. Việc vi phạm nghĩa vụ thông báo là hành vi vi phạm và bị xử phạt
3. Quyền và nghĩa vụ trong việc bán doanh nghiệp
Bán doanh nghiệp tư nhân tất yếu sẽ làm thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân và cũng tương tự như hoạt động cho thuê doanh nghiệp tư nhân, việc bán doanh nghiệp tư nhân đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp tư nhân và người mua doanh nghiệp tư nhân. Từ phía chủ doanh nghiệp tư nhân, việc bán doanh nghiệp tư nhân là một cách thức để rút lui khỏi thị trường hữu hiệu. Nếu chủ doanh nghiệp nhận thấy doanh nghiệp tư nhân của mình hoạt động không hiệu quà, có nguy cơ thua lỗ, phá sản hoặc trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân rơi vào hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật... thì việc bán doanh nghiệp tư nhân sang cho người khác là cách thức tốt để tiếp tục duy trì hoạt động của doanh nghiệp tư nhân đó. Thậm chí, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể nhận được một khoản lợi nhuận từ việc bán doanh nghiệp tư nhân như vậy. Từ góc độ lợi ích của nhà đầu tư quyết định mua doanh nghiệp tư nhân thì đây là một cách đầu tư khôn ngoan, bởi việc mua doanh nghiệp tư nhân có thể giúp các nhà đầu tư tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức xây dựng thương hiệu trên thị trường. Từ đó, nhà đầu tư có thể tranh thủ và tận dụng những lợi ích hiện có của doanh nghiệp tư nhân để tiếp tục phát triển. Dĩ nhiên trước khi quyết định bỏ vốn để mua một doanh nghiệp tư nhân nào đó, nhà đầu tư phải cân hhắc các yếu tố liên quan, mà quan trọng hơn hết là khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đó.
Việc bán doanh nghiệp tư nhân thực chất là bán toàn bộ tài sản còn lại trong doanh nghiệp, vì về nguyên tắc, trước khi bán, doanh nghiệp tư nhân đã thanh toán hết các khoản nợ và thanh lý hết các hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên có liên quan. Vì vậy, sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác phát sinh trước thời điểm chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác .
Luật doanh nghiệp năm 2020 thì nêu người mua, người được tặng cho thỏa mãn điều kiện để làm chủ doanh nghiệp tư nhân và mong muốn duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp đó, thì chỉ phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân. Với điểm mới này, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ cỏ nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc bán doanh nghiệp tư nhân và duy trì uy tín kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân đã được xây dựng, cũng như là đáp ứng tốt hơn nguyện vọng cùa các nhà đầu tư.
Hoạt động mua bán doanh nghiệp tư nhân có nhiều khác biệt so với việc mua bán công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Mua bán công ty có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, tiêu biểu là mua phần vốn góp/cổ phần đủ để kiểm soát công ty bị mua. về nguyên tắc, sau khi hoàn thành các thủ tục chuyển nhượng theo quy định pháp luật thì thành viên/cổ đông không còn chịu trách nhiệm đối với phần vốn đã được chuyển nhượng. Còn việc bán doanh nghiệp tư nhân là bán các tài sản còn lại dùng trong kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về tất cả các khoản nợ mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ khi có thỏa thuận ba bên về việc chuyển giao cả phần tài sản nợ và nghĩa vụ chưa thực hiện. Ngoài ra, đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân chính là doanh nghiệp tư nhân - một chủ thể kinh doanh. Từ đó, dẫn đến sự thay đổi địa vị của chủ sở hữu doanh nghiệp cụ thể là sự chuyển đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp từ bên bán sang bên mua, chấm dứt tư cách pháp lý của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân cũ.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê