Khái niệm về công ty hợp danh

Công ty hợp danh là loại hình công ty, trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty. Công ty hợp danh hay còn gọi là công ty góp danh là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân. Xét về mặt lịch sử thì công ty hợp danh ra đời sớm nhất, bởi lẽ khi con người biết hành nghề thương mại thì có lẽ lúc ban đầu họ kinh doanh đơn lẻ (từng cá nhân). Sau này do nhu cầu kinh doanh cần phải liên kết thì họ phải lựa chọn những người thân, quen và phải thật tin tưởng để cùng nhau kinh doanh.

Trên thực tế, công ty này được thành lập trong dòng họ gia đình. Do tính chất liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên các thành viên phải thật sự hiểu biết nhau, tin tưởng nhau “sống chết có nhau”. Điều đó phản ánh tâm lý của các nhà kinh doanh khi hùn vốn với nhau để kinh doanh. Các nhà kinh doanh ưa thích mô hình hợp danh hơn là kinh doanh đơn độc theo mô hình cá nhân kinh doanh.

Việc thành lập công ty dựa trên cơ sở hợp đồng giữa các thành viên. Hợp đồng thành lập công ty nói chung được lập thành vãn bản, tuy nhiên, luật không bắt buộc phải làm như vậy. Các bên có thể thoả thuận miệng, thậm chí không cần tuyên bố rõ, mà chỉ cần có những hoạt động thương mại chung thì công ty cũng được coi là đã thành lập. về nguyên tắc, hợp đồng thành lập phải được đăng ký vào danh bạ thương mại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hợp đồng tuy không được đăng ký nhung được thông báo rộng rãi thì vẫn có giá trị pháp lý.

Trong họp đồng, điều quan ữọng là sự thoả thuận về trách nhiệm của các thành viên. Một công ty hợp danh được thành lập nếu ít nhất có hai thành viên thoả thuận với nhau cùng chịu trách nhiệm liên đới vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty.

Trên thế giới, căn cứ vào tính chất liên kết và chế độ trách nhiệm, công ty thương mại chia thành hai loại là công ty đối nhân và công ty đối vốn. Trong công ty đối nhân, công ty hợp danh và công ty hợp danh hữu hạn (hay công ty hợp vốn đơn giản) là hai loại công ty nổi bật; theo đó công ty hợp danh chỉ có toàn thành viên hợp danh với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên; công ty hợp danh hữu hạn vừa có thành viên hợp danh (chịu trách nhiệm vô hạn), vừa có thành viên góp vốn (chịu TNHH). Vì thế, công ty hợp danh là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân, là loại hình công ty ra đời sớm nhất do nhu cầu liên kết về nhân thân của các thành viên.

ở Việt Nam, quy định về công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 có những điểm đặc thù không hoàn toàn giống với luật các nước. Cụ thể, công ty hợp danh được định nghĩa là doanh nghiệp, trong đó:

+ Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty;

+ Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;

+ Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào (Điều 172).

>> Xem thêm: Luật công ty là gì ? Sự ra đời của công ty và Luật Công ty

Như vậy, Luật Doanh nghiệp không đưa ra một định nghĩa khái quát, mà mô tả công ty hợp danh qua các đặc điểm đặc trưng. Cách xây dựng khái niệm Luật Doanh nghiệp năm 2020. Điểm tương đồng giữa các Luật này khi quy định về công ty hợp danh, đó là công ty hợp danh bao gồm hai loại công ty, cụ thể gồm:

- Công ty hợp danh:

chỉ bao gồm các thành viên hợp danh, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới; có quyền quản lý và đại diện cho công ty hợp danh. Quy định này giống với luật của nhiều nước, ví dụ: Luật Hợp danh thống nhất Hoa Kỳ năm 1997, công ty hợp danh là một hội gồm hai thể nhân trở lên với tư cách là những đồng sở hữu cùng nhau kinh doanh để thu lợi nhuận. Không một thể nhân nào có thể trở thành thành viên của công ty hợp danh nếu không được sự nhất trí của tất cả các thành viên công ty. Bộ luật Thương mại Nhật Bản gọi đây là hình thức hợp danh vô hạn, trong đó, các thành viên hợp danh là chủ sở hữu (Điều 80). Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn một cách trực tiếp và liên đới. Khi công ty không có khả năng thanh toán nợ thì mỗi thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đớỉ bằng tài sản của mình. Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kì thành viên hợp danh nào của công ty trả nợ nếu công ty không trả được nợ và có thể yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản của cá nhân thành viên...

- Công ty hợp danh hữu hạn gồm:

thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, có quyền quản lý và đại diện cho công ty; thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn, không có quyền quản lý và không có quyền đại diện cho công ty. Luật công ty của các nước quy định về loại hình này, nhưng không nằm trong khái niệm “công ty hợp danh” mà là một trong hai loại công ty đối nhân cơ bản. Ví dụ: Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: Công ty hợp danh hữu hạn là công ty hợp danh mà ở đó một hay nhiều thành viên cùng chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn đối với tất cả các nghĩa vụ của công ty; một hoặc một số thành viên có trách nhiệm được hạn chế trong số vốn mà họ cam kết góp vào công ty (Điều 1077). Theo pháp luật Pháp, hình thức này được gọi là công ty hợp vốn đơn thường. Công ty này cho phép một thương nhân có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn được tận dụng phần vốn góp của thành viên góp vốn - người nắm giữ vốn nhưng không thể tự tiến hành các hoạt động thương mại do quy chế của mình, như quý tộc, tăng lữ, thẩm phán...

Đây là điểm khá đặc thù của pháp luật Việt Nam khi quy định về công ty hợp danh so với các nước, khi Luật không gọi là công ty đối nhân, nhưng bao gồm cả hai loại công ty đối nhân theo luật các nước. Quy định này khiến các nhà kinh doanh có thể dễ dàng hơn khi tổ chức, hoạt động theo mô hình công ty hợp danh, vì họ có thể kết nạp hoặc không kết nạp thành viên góp vốn mà không phải đăng ký thay đổi loại hình doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, việc quy định như vậy cũng khiến công ty hợp danh của Việt Nam không hoàn toàn giống công ty hợp danh các nước, gây khó khăn cho việc nhận diện cũng như hội nhập của các nhà kinh doanh Việt Nam khi kinh doanh dưới hình thức công ty hợp danh.

Ngoài hai loại hình công ty cơ bản trên, pháp luật các nước tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của nước mình, có thể quy định thêm các loại khác trong công ty đối nhân. Ví dụ: Luật của Pháp quy định thêm công ty hợp vốn cổ phần: là loại công ty có thành viên họp vốn chịu trách nhiệm trong phạm vi cổ phần họ sở hữu, không có quyền quản lý nhân danh công ty; thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới về mọi khoản nợ của công ty, có vai trò quan trọng trong việc quyết định các vấn đề của công ty; công ty có thể phát hành chứng khoán. Pháp luật Hoa Kỳ quy định thêm công ty hợp danh TNHH, trong đó các thành viên chịu TNHH có quyền như nhau trong quản lý, điều hành công ty trừ khi trong thỏa thuận thành lập, các thành viên có thỏa thuận khác. Riêng ở New York và Caliíòmia, pháp luật hai bang này giới hạn lĩnh vực hoạt động của loại hình công ty này chỉ có thể là nghề luật sư hoặc kiểm toán. Đối với pháp luật Việt Nam, nếu công ty hợp danh được mở rộng thêm các loại hình tưong tự như luật của Pháp hay của Hoa Kỳ..., việc gọi tên là công ty hợp danh nói chung sẽ càng thiếu tính chính xác, do vậy, cần phải tách bạch các loại công ty riêng và định danh cụ thể đối với từng loại hình công ty.

Thành viên công ty hợp danh có được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên của công ty hợp danh khác hay không

Như theo điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014 thì công ty hợp danh có hai loại thành viên: Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.

Thứ nhất ta xét điều lệ trên với thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì quy định về thành viên công ty hợp danh tại điểm b khoản 1 Điều 172 Luật doanh nghiệp 2014 quy định:

Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty”.

Trách nhiệm tài sản của các thành viên hợp danh đối với các nghĩa vụ của công ty là trách nhiệm vô hạn và liên đới. Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kỳ thành viên hợp danh nào thanh toán các khoản nợ của công ty đối với chủ nợ. Mặt khác, các thành viên hơp danh phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình bao gồm tài sản đầu tư vào kinh doanh và tài sản dân sự.
Mặt khác Luật doanh nghiệp 2014 tại khoản 1 Điều 183 quy định về doanh nghiệp tư nhân:

1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình mọi hoạt động của doanhnghiệp”.


Như vậy, Chủ doanh nghiệp tư nhân cũng phải chịu trách nhiệm vô hạn về những nghĩa vụ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình, theo khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014;

“Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một danh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh”.

Bởi cả chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên công ty hợp danh đều phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty. Nếu đồng thời là thành viên công ty hợp danh và chủ doanh nghiệp tư nhân thì sẽ dẫn đến việc khó khăn khi người này phải đồng thời thực hiện nghĩa vụ ở công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, ngoại lệ của điều lệ này của công ty hợp danh quy định của pháp luật tại Khoản 1 Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014 quy định như sau :

“Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại”.

Như vậy,

Luật doanh nghiệp 2014 quy định rằng thành viên công ty hợp danh vẫn có thể là chủ doanh nghiệp tư nhân nếu được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại. Quy định này của pháp luật là hợp lý bởi tuy thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn nhưng các thành viên hợp danh của công ty hợp danh sẽ liên đới chịu trách nhiệm nên khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ của thành viên hợp danh sẽ được giải quyết. Trách nhiệm của các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh là liên đới nên khi được sự đồng ý của các thành viên hơp danh còn lại, tức là các thành viên của công ty hợp danh đó đã chấp nhận gánh vác những rủi ro về trách nhiệm của người được họ cho phép trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên công ty hợp danh khác. Hơn nữa công ty hợp danh là tiêu biểu cho loại hình công ty đối nhân, các thành viên hợp danh đã có mối quan hệ tin tưởng và thân mật từ trước, chỉ quan tâm đến nhân thân của thành viên mà không quan tâm đến số vốn họ góp, do đó nếu được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại thì thành viên hợp danh của công ty hợp danh vẫn có thể là chủ doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp muốn trở thành thành viên của một công ty hợp danh khác thì có hai trường . Một là người đó muốn trở thành thành viên hợp danh của cả hai công ty hợp danh thì phải được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại của cả hai công ty hợp danh mà người đó muốn trở thành thành viên hợp danh. Vì trách nhiệm của người trở thành thành viên hợp danh của hai công ty hợp danh liên quan đến trách nhiệm của các thành viên còn lại của cả hai công ty hợp danh, nên phải được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại của cả hai công ty hợp danh thì một người mới có thể trở thành thành viên hợp danh của cả hai công ty đó được. Còn muốn trở thành thành viên góp vốn của một công ty hợp danh khác, thì không cần xét đến điều kiện trên.

Thứ hai xét với thành viên của công ty hợp danh là thành viên góp vốn. Theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014: “ Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty”. Thì điều lệ “ thành viên công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân” hợp lý với khoản 3 Điều 183 luật doanh nghiệp 2014. Còn với điều lệ: “Thành viên công ty hợp danh không được trở thành thành viên công ty hợp danh khác” là không hợp lý khi thành viên đó là thành viên góp vốn vì thành viên góp vốn không bị hạn chế bởi khoản 1 điều 175 luật doanh nghiệp 2014 như thành viên hợp danh.

Như vậy,

định thành viên của công ty hơp danh không được là chủ danh nghiệp tư nhân là không phù hợp với khoản 1 Điều 175 luật doanh nghiệp 2014 nhưng lại phù hợp với khoản 3 Điều 183 luật doanh nghiệp 2014, đây là hai điều luật có nội dung không phù hợp với nhau một bên cho phép thành viên công ty hợp danh được làm chủ doanh nghiệp tư nhân khi được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại, còn bên kia lại quy định chủ doanh nghiệp tư nhân không được trở thành thành viên công ty hợp danh. Như vậy, nhìn chung theo quy định của pháp luật thì điều lệ “thành viên công ty hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân” là hợp lý. Còn thành viên công ty hợp danh không được trở thành thành viên của còn ty hợp danh khác là không phù hợp với khoản 1 Điều 175. Như vậy, điều lệ của công ty cần theo hướng phù hợp với quy định của pháp luật hơn , cần đề cập đến sự thỏa thuận của các thành viên hợp danh trong công ty đó.