Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Đất đai của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi: 1900 6162

1. Mua bán nhà thanh lý hóa giá viết tay có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tình huống 1: Đầu năm 2000 tôi mua một căn nhà tầng 1 (Khu lắp ghép 2 tầng) tại khu tập thể Viện thiết kế A, khi mua bán chỉ có giấy tờ viết tay với chủ sở hữu thứ 2 (người này khi mua của chính chủ cũng chỉ có giấy viết tay). Hiện nay, tôi chỉ có một số giấy tờ về nhà gồm: 2 quyết định phân nhà do Viện trưởng ký năm 1996, 1 biên lai thu tiền thanh lý nhà năm 1996, 1 giấy hợp đồng lắp điện, 1 giấy mua bán viết tay giữa người chủ sở hữu thứ 2 với chính chủ. Hỏi: Hiện nay tôi muốn làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì phải làm những thủ tục gì?

Trả lời:

Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

“Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;”

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai 2013 quy định về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở như sau:

“Điều 31. Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Hộ gia đình, cá nhân trong nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:

b) Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;”

Như vậy, căn cứ theo quy định trên có thể thấy người đầu tiên được viện trưởng Viện thiết kế A quyết định phân nhà và về sau có biên lai thanh lý hóa giá nhà là người có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, hiện nay người thực tế sử dụng không phải là người được giao nhà và mua hóa giá mà đã chuyển nhượng lại bằng hợp đồng mua bán viết tay với người chủ thứ 2 vào năm 2002, trước đó người chủ thứ 2 cũng mua bán viết tay với người chủ đầu tiên.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mà không phải nộp hợp đồng văn bản chuyển nhượng đất theo quy định pháp luật như sau:

"1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;

b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này;

c) Sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.”

Như vậy, Theo quy định trên việc mua bán nhà viết tay vẫn có hiệu lực. Gia đình anh/ chị có thể làm hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng dất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất để được xem xét xử lý.

2. Cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà mua bán hóa giá theo Nghị định số 61/CP

Tình huống 2: Chúng tôi gồm 42 hộ gia đình thuộc khu tập thể Công ty A tại tổ 1, cụm 1, phường K. Các hộ chúng tôi hiện đang ở trong các căn hộ của Nhà nước do Công ty A thuộc sở Xây dựng Hà Nội quản lý từ năm 1972 và năm 1989 đã giao cho các hộ tự quản. Ngày 3-10-2003 Cơ quan có công văn gửi úy ban nhăn dân phường thông báo là vẫn chưa bàn giao khu nhà tập thể này cho sở Địa chính - Nhà đất Hà Nội. Hỏi: Chúng tôi phải làm thủ tục gì để được cấp sổ đỏ cho từng gia đình. Văn bản thông báo của cơ quan chủ quản cho phường có đúng quy định của nhà nước không?

Trả lời:

Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

“Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;”

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai 2013 quy định về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở như sau:

“Điều 31. Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Hộ gia đình, cá nhân trong nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:

b) Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;”

Như vậy, Nếu các hộ trong khu tập thể của bà muốn được cấp giấy chứng nhận cho phần diện tích đang thuê của Nhà nước thì cần phải làm đơn đề nghị cơ quan chủ quản bàn giao khu tập thể cho cơ quan Địa chính - Nhà đất và Giám đốc Công ty kinh doanh nhà thuộc quận Ba Đình sẽ có thẩm quyền giải quyết bán nhà thuộc sỏ hữu Nhà nưóc theo quy định của pháp luật cho các hộ. Nếu được giải quyết thanh lý nhà thuộc sở hữu nhà nước, các hộ sẽ được cấp giấy chứng nhận sau khi đã trả các khoản tiền theo quy định của pháp luật.

3. Đất 5% đã được cấp sổ đỏ có được chuyển nhượng

Tình huống 3: Năm 1992, gia đình bạn tôi được chuyển đổi 4 thước diện tích đât rau xanh (5%) về làm đất vườn nhà cho tiện canh tác. Năm 1998 số diện tích đất này cùng một sào đất ở được làm sô đỏ. Nay gia đình bạn tôi muôn bán 4 thước đất 5% và 2 thước đất ở là 6 thước. Vậy: Bạn tôi có quyền bán 4 - thước đất 5% đã có sổ đỏ hay không ?

Trả lời:

Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:

“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

Đồng thời căn cứ Điều 168 Luật Đất đai 2013 quy định về Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất như sau:

“Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Như vậy, Đối với trường hợp của bạn anh nếu đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thì được quyền chuyển nhượng.

4. Nhà mua bán hóa giá chưa cấp sổ đỏ có được bồi thường khi thu hồi

Tình huống 4: Khu tập thể nơi chúng tôi đang ở thuộc Quân đội quản lý (Nhà máy Z), diện tích sử dụng của tôi là 70 m2 gồm gian nhà được Nhà máy phân (đã thanh lý), còn lại là do san lấp ao, đất hoang hoá từ năm 1980. Việc sử dụng đất của tôi từ trước đến nay không có tranh chấp khiếu kiện gì. Năm 2002 Uy ban nhân dân huyện cùng nhà máy cắm chỉ giới xác định đất nhà tôi nằm ngoài chỉ giới ao của Hợp tác xã T. Đến nay Ủy ban nhân dân thành phố H có quyết định thu hồi đất để giao Công ty D, trong đó thu của nhà tôi là 7,8 m2 sát ao gọi là đất lấn chiếm và bồi thường 25.000 đồng/m2. Hỏi: Ủy ban nhân dân thành phố H thu hồi đất để giao công ty D có đúng không vì tôi chỉ chấp nhận thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công Cộng? Việc tôi sử dụng đất Ổn định, không có tranh chấp, khiếu kiện có được coi là đất hợp lệ không?

Trả lời:

Căn cứ Điều 61 Luật Đất đai 2013 quy định về thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh như sau:

“Điều 61. Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh

Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong các trường hợp sau đây:

1. Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;

2. Xây dựng căn cứ quân sự;

3. Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;

4. Xây dựng ga, cảng quân sự;

5. Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;

6. Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;

7. Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;

8. Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;

9. Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân;

10. Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.

Đồng thời căn cứ Điều 62 Luật Đất đai 2013 quy định về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

“Điều 62. Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;

2. Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:

a) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);

b) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia;

c) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

3. Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:

a) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;

b) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;

c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;

d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;

đ) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.”

Như vậy, Theo quy định pháp luật hiện hành các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng gồm các trường hợp như trên. Do dữ liệu khách hàng đưa ra chưa đủ để xác định do đó khách hàng đối chiếu với vụ việc của mình để xác định Uỷ ban nhân dân thành phố H có thực hiện thu hồi đất đúng thẩm quyền hay không.

Về câu hỏi Việc tôi sử dụng đất Ổn định, không có tranh chấp, khiếu kiện có được coi là đất hợp lệ không?

Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

“Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;”

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai 2013 quy định về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở như sau:

“Điều 31. Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Hộ gia đình, cá nhân trong nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:

b) Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;”

Căn cứ khoản 3, 4 Điều 22 Nghị Định 43/2014/NĐ-CP quy định về Việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 như sau:

“3. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thực hiện xử lý như sau:

a) Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.

Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;

b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang mà đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt, không có tranh chấp thì được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất theo hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; nếu vượt hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê.”

Như vậy, Đối với phần nhà đất đã mua bán thanh lý hóa giá sẽ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với san lấp đất ao, khai hoang phục hóa năm 1980 nếu thỏa mãn các điêu kiện quy định tại khoản 3,4 Điều 22 Nghị Định 43/2014/NĐ-CP thì đủ điều kiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với trường hợp đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi thu hồi đất sẽ đủ điều kiện nhận bồi thường.

5. Cấp sổ đỏ cho trường hợp mua bán nhà đất bằng hợp đồng viết tay.

Tình huống 5: Tôi có mua một căn hộ tầng 1 khu nhà lắp ghép 2 tầng, khu B, tập thề Y từ ngày 30/5/1992. Căn hộ này nguồn gốc là do Ban Khoa giáo Trung ương mua rồi bán cho ông A trong năm 1974. Sau đó ông A đổi nhà cho ông B và ông B tặng cho em gái là bà D. Năm 1992 bà D bán cho tôi có xác nhận của úy ban nhân dân phường. Ông A và ông B đều đã chuyển vào Nam từ lâu, không có địa chỉ hay liên lạc gì. Hỏi: Tôi phải lầm thủ tục gì để được cấp sổ đỏ.

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mà không phải nộp hợp đồng văn bản chuyển nhượng đất theo quy định pháp luật như sau:

"1. Các trường hợp đang sử dụng đất sau đây mà chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì người đang sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:

a) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2008;

b) Sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và Điều 18 của Nghị định này;

c) Sử dụng đất do nhận thừa kế quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.”

Như vậy, Đối chiếu quy định trên khách hàng có thể làm thủ tục đề nghị để được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê Sưu tầm và biên tập