1. Mua bán trẻ em là gì?
Mua bán trẻ em là (Hành vi) dùng tiền hoặc phương tiện thanh toán khác để trao đổi trẻ em như hàng hóa.
Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP quy định
"2. Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
b) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
c) Chuyển giao người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
d) Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c khoản này."
2. Quy định về tội mua bán trẻ em theo Bộ luật Hình sự hiện hành
Theo Điều 151 Bộ luật Hình sự 2015 quy định
“Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;
b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Lợi dụng hoạt động cho, nhận con nuôi để phạm tội;
c) Đối với từ 02 người đến 05 người;
d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;
đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Vì động cơ đê hèn;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;
e) Đối với 06 người trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
3. Các dấu hiệu để cấu thành tội mua bán trẻ em theo Bộ luật Hình sự
3.1. Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội mua bán trẻ em được thể qua hành vi sau: Mua đứa trẻ của người khác nhằm để bán thu lợi và bán đứa trẻ sau khi mua hoặc khi bắt trộm để thu lợi.
Việc mua bán trẻ em có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên dù dưới bất kì hình thức nào thì người có một trong các hành vi nói trên vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi thực hiện đó.
+ Trẻ em là người bị hại trong trường hợp này là người chưa đủ 16 tuổi.
+ Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi nhằm vào việc mua, bán trẻ em. Nếu hậu quả việc mua bán trẻ em chưa xảy ra thì được coi là phạm tội chưa đạt.
3.2. Khách thể:
Khách thể của tội phạm là các hành vi nêu trên xâm phạm đến quan hệ về quyền được chăm sóc,nuôi và sống chung với cha mẹ, quyền được bảo vệ của trẻ em.
3.3. Mặt chủ quan:
Tội phạm nêu trên được thực hiện với lỗi cố ý.
Động cơ thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo,chiếm đoạt nêu trên không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản mà chỉ có ý nghĩa trong việc định khung tăng nặng, lượng hình.
3.4. Chủ thể:
Chủ thể của ba tội nêu trên là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
4. Thực trạng mua bán trẻ em ở Việt Nam hiện nay
Mới đây, theo kết quả nghiên cứu về di cư, bóc lột và nạn buôn bán trẻ em, thanh thiếu niên ở Việt Nam do Viện Khoa học, Lao động và Xã hội (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) cùng với Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF, Tổ chức CORAM quốc tế công bố: Hiện có khoảng 5,6% trẻ em Việt Nam có khả năng bị buôn bán.
Phó Viện trưởng Viện Khoa học, Lao động và Xã hội (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) Lưu Quang Tuấn cho hay, nhóm nghiên cứu trong 2 năm rưỡi, suốt từ năm 2017 đến 2019, đã tiến hành khảo sát trên 3885 trẻ em, thiếu niên và thanh niên Việt Nam ở 36 xã trên khắp đất nước. Sau đó, 769 hộ gia đình được chọn để thực hiện khảo sát phỏng vấn chủ hộ. Những gia đình này đều có trẻ vắng nhà trong thời gian tiến hành khảo sát.
Được biết, ngoài 2 cuộc khảo sát lớn này, nhóm còn thực hiện nghiên cứu khảo sát 84 trẻ và thanh niên trong độ tuổi từ 12-24 đã được chính thức công nhận là nạn nhân bị buôn bán và đang nhận sự hỗ trợ thông qua các cơ sở bảo trợ xã hội của nhà nước hoặc các chương trình trợ giúp khác.
Nghiên cứu về di cư, bóc lột và nạn buôn bán trẻ em, thanh thiếu niên Việt Nam được thiết kế nhằm củng cố thông tin, bằng chứng về nạn buôn người và bóc lột trẻ em. Qua đó, tìm hiểu, làm rõ loại hình, động cơ của tình trạng này, xác định những yếu tố cụ thể khiến trẻ dễ bị tổn thương, qua trải nghiệm của những người từng bị buôn bán trở về tái hòa nhập, để xác định các dịch vụ hỗ trợ cần thiết.
Sau khi tổng hợp thông tin, nhóm nghiên cứu ước tính có khoảng 5,6% trẻ em ở Việt Nam có nhiều khả năng có các trải nghiệm chỉ ra hoặc giống với buôn bán trẻ em. Chỉ có 2,8% được xác định là nạn nhân…Trẻ em gái, nữ, hay em trai, thanh thiếu niên đều có mức độ nguy cơ giống nhau.
Nguyên nhân và giải pháp chống lại nạn buôn bán trẻ em ở Việt Nam
Việc buôn bán người được nhóm nghiên cứu xác định bắt nguồn từ sự di cư tự nguyện (chỉ có 13% cho biết bị đưa đi trái ý muốn) do tin vào lời kẻ buôn người với những lời hứa hẹn về cơ hội việc làm thu nhập cao, công việc tốt, điều kiện học hành lý tưởng.
Đa số các nạn nhân khi trở về đều khó tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ.
Bà Kara Apland- đại diện tổ chức CORAM quốc tế nhận định: “Cả bé trai và bé gái bị buôn bán, cả những trường hợp di cư qua biên giới hay trong nội địa có các dấu hiệu của buôn bán trẻ em, hoặc những trường hợp thanh thiếu niên bị buôn bán để làm việc trong ngành công nghiệp tình dục hoặc những ngành nghề khác... đều có sức khỏe tinh thần bị tổn hại đáng kể. Nhiều nạn nhân chưa bao giờ tiếp cận đến các dịch vụ hỗ trợ”, báo Tuổi Trẻ dẫn lời cho biết.
Nguyên nhân tiếp theo có thể kể đến là do sự phát triển của mạng xã hội: Phương thức, thủ đoạn của tội phạm mua bán người diễn ra ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có tổ chức, có sự cấu kết chặt chẽ giữa người mua và người bán, môi giới, dẫn dắt, hình thành các đường dây tội phạm liên tỉnh và xuyên quốc gia. Khác với trước đây, việc tiếp cận và làm quen với nạn nhân phải gặp gỡ trực tiếp để ru rê, thì hiện nay, ngày càng nhiều đối tượng phạm tội thông qua các trang mạng xã hội và điện thoại thông minh để tiếp cận nạn nhân, hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp với nạn nhân, nên công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn của lực lượng chức năng gặp rất nhiều khó khăn.
Cùng với đó là sự chênh lệch về kinh tế xã hội: Sự chênh lệch về kinh tế xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng muôn bán người hiện nay. Đa số các vụ mua bán người diễn ra ở những vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển, có nhiều khó khăn về đường xá và phương tiện đi lại. Nghề nghiệp của các nạn nhân trước khi bị lừa bán ra nước ngoài chủ yếu là làm ruộng và thất nghiệp, cuộc sống của họ không có đủ thông tin xã hội. Do đó, họ dễ dàng bị lợi dụng và cả tin vào các đối tượng phạm tội, trở thành nạn nhận của tội phạm mua bán người.
Bà cũng khuyến cáo cách phòng ngừa buôn bán và bóc lột lao động trẻ em như thúc đẩy các em tiếp cận với chương trình giáo dục toàn diện về di cư, quyền của người lao động, ưu tiên việc tiếp cận các chương trình trang bị và hoàn thiện kỹ năng sống, cơ hội tìm việc làm, tăng cường cải thiện dịch vụ xã hội, mở rộng cơ chế bảo vệ pháp luật dành cho lao động di cư.
Cùng trao đổi về vấn đề này, bà Lesley Miller, Phó Trưởng đại diện Quỹ Nhi đồng LHQ tại Việt Nam đánh giá, nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng đối với chính sách và chương trình hành động nhằm bảo vệ trẻ em tại Việt Nam. Tính từ năm 2011 đến 2018, Việt Nam có khoảng 7000 trường hợp là nạn nhân của hành vi buôn bán người, hàng ngàn trường hợp khác được báo cáo mất tích… Kết quả nghiên cứu cho thấy, cần tăng cường hơn nữa việc thu thập thông tin, dữ liệu về tình trạng buôn bán người, dữ liệu phân tích về giới, tăng cường biện pháp phòng ngừa qua việc nâng cao nhận thức về nguy cơ rủi ro đối với những người di cư, tăng cường hơn nữa dịch vụ xã hội cho gia đình nghèo dễ bị tổn thương.
Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tạo nhiều việc làm cho thanh thiếu niên, tăng cường khả năng tiếp cận của trẻ dễ bị tổn thương và trở thành nạn nhân của nạn buôn người.
Theo thống kê của Bộ Công an, từ 2011-2018, trên toàn quốc đã xảy ra 3285 vụ liên quan đến 4800 đối tượng lừa bán 7200 nạn nhân. Các vụ mua bán người xảy ra rộng khắp trên 63 tỉnh thành với gần 90% là mua bán người ra nước ngoài, chủ yếu là sang Trung Quốc, trong đó có 430 vụ mua bán người dưới 16 tuổi.
Diễn biến và hành vi những vụ buôn bán người rất phức tạp và tinh vi với đủ hình thức như bắt cóc, chiếm đoạt trẻ để mua bán, đánh tráo, bắt cóc, mua bán trẻ sơ sinh, bào thai, rồi cả hành vi mua bán trẻ dưới dạng cho nhận con nuôi hay đẻ thuê.
Đây là tình trạng rất đáng báo động đòi hỏi các cơ quan liên quan, Nhà nước và toàn thể nhân dân phải nâng cao ý thức và tích cực hành động bảo vệ an toàn tính mạng cho trẻ.