1. Quy định về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ?

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em được quy định tại điều 151, luật hình sự năm 2015

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: - 1900.6162

---------------------------------------------------------

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định tại Bộ luật hình sự trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp hướng dẫn như sau:

1. Xác định hành vi mua bán người:

Mua bán người” là một trong các hành vi sau đây được thực hiện đối với người tử đủ 16 tuổi trở lên không phân biệt giới tính:

1. Dùng bạo lực hoặc các hình thức ép buộc khác, lừa gạt, lợi dụng tình trạng khó khăn của một hoặc nhiều người để chuyển giao họ cho người khác lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, không phụ thuộc vào việc người bị chuyển giao có đồng tình hay không đồng tình;

2. Dùng bạo lực hoặc các hình thức ép buộc khác, lừa gạt, lợi dụng tình trạng khó khăn của nạn nhân để tiếp nhận một hoặc nhiều người do người khác chuyển giao, có trả tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người chuyển giao, không phụ thuộc vào việc người bị chuyển giao có đồng tình hay không đồng tình;

3. Mua người để cưỡng bức lao động, bóc lột tình dục, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác trái với ý muốn của người đó;

4. Mua người để bán lại cho người khác trái với ý muốn của người đó (không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào);

5. Tìm kiếm, vận chuyển, chứa chấp người để chuyển giao cho người khác lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

2. Các tình tiết định khung tăng nặng

1. "Vì mục đích mại dâm" quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người để nhằm buộc họ bán dâm.

2. "Có tổ chức" quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm, có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. "Có tính chất chuyên nghiệp" quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp người phạm tội mua bán người từ 5 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích) và người phạm tội đều lấy các lần mua bán người làm nghề sinh sống, lấy kết quả của việc mua bán người làm nguồn sống chính.

Đối với trường hợp phạm tội từ 5 lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xoá án tích thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng các tình tiết định khung hoặc tình tiết tăng nặng "phạm tội nhiều lần", "đối với nhiều người", "tái phạm” (hoặc “tái phạm nguy hiểm”) và "có tính chất chuyên nghiệp”.

4. “Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người nhằm lấy bộ phận cơ thể của họ. Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định (như: tim, gan, thận, nhãn cầu, tay, chân…).

5. "Để đưa ra nước ngoài" quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán người để đưa nạn nhân ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, kể cả trong trường hợp nạn nhân chưa bị đưa ra nước ngoài nhưng có căn cứ xác định người phạm tội có ý định đưa nạn nhân ra nước ngoài.

6. "Đối với nhiều người" quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán từ 2 người trở lên trong cùng một lần phạm tội.

7. "Phạm tội nhiều lần" quy định của Bộ luật hình sự là trường hợp mua bán từ hai lần trở lên, không phân biệt các hành vi mua bán đó được thực hiện đối với một người hay đối với nhiều người và trong các lần mua bán đó người phạm tội chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Trường hợp môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép

Người thực hiện việc môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người môi giới đã có thủ đoạn lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc hoặc lợi dụng tình trạng khó khăn của người phụ nữ trực tiếp (hoặc tổ chức) đưa phụ nữ ra nước ngoài môi giới trái phép để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, không phụ thuộc vào việc người phụ nữ bị đưa ra nước ngoài có đồng tình hay không. Tùy từng trường hợp cụ thể, người môi giới còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài trái phép hoặc ở lại nước ngoài trái phép theo quy định tại Điều 275 của Bộ luật hình sự; nếu cùng với việc đưa người xuất cảnh trái phép, người đó còn có hành vi sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của các cơ quan, tổ chức, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và các hành vi này có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người môi giới còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương ứng được quy định tại Điều 266 và Điều 267 của Bộ luật hình sự;

b) Người môi giới đã nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác để tổ chức các cuộc gặp gỡ trong nước cho người nước ngoài xem mặt và chọn vợ, đồng thời người môi giới có hành vi dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc các nạn nhân đến để cho người nước ngoài xem mặt và sau đó, cầm giữ, đe dọa hoặc dùng thủ đoạn khác buộc họ phải chấp nhận kết hôn với một người nước ngoài mà họ không mong muốn. Người được môi giới (người nước ngoài) cũng phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người nếu trước khi xem mặt đã bàn bạc và thống nhất về cách thức tiến hành với người môi giới và đã trả tiền (hoặc hứa trả tiền) để người môi giới thực hiện;

c) Người môi giới biết việc người nước ngoài xem mặt, chọn vợ và kết hôn chỉ là phương thức, thủ đoạn để người nước ngoài đưa người phụ nữ ra nước ngoài bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc bán cho người khác nhưng vẫn tiến hành môi giới để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác của người nước ngoài;

d) Người môi giới đã nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác và có thủ đoạn dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc hoặc lợi dụng tình trạng khó khăn của người phụ nữ buộc họ phải kết hôn với người nước ngoài ở nước ngoài.

2. Trường hợp môi giới mua bán bộ phận cơ thể người

a) Trường hợp một người nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất của người khác để tìm kiếm, giới thiệu và chuyển giao cho người đó một hoặc nhiều người đủ 16 tuổi trở lên để lấy bộ phận cơ thể người; nếu trong quá trình tìm kiếm, đã có thủ đoạn dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc hoặc đe doạ người cho bộ phận cơ thể người để họ phải chấp nhận việc cho bộ phận cơ thể người, thì cả người tìm kiếm và người trả tiền cho việc tìm kiếm đều phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người với tình tiết định khung tăng nặng là “Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”.

b) Trường hợp việc lấy bộ phận cơ thể người dẫn đến hậu quả là nạn nhân bị chết thì người lấy bộ phận cơ thể người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người với tình tiết định khung là “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 93 của Bộ luật hình sự; nếu người đã nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để tìm kiếm biết việc lấy bộ phận cơ thể người sẽ dẫn đến hậu quả là nạn nhân bị chết nhưng vẫn thực hiện việc tìm kiếm thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người với vai trò đồng phạm.

c) Trường hợp một người bệnh cần bộ phận cơ thể người để thay thế và đã bày tỏ nguyện vọng của mình cho người khác biết. Qua bạn bè hoặc qua giới thiệu người có nhu cầu cho bộ phận cơ thể người tự tìm đến và thoả thuận mua bán bộ phận cơ thể người với người cần bộ phận cơ thể người và việc mua bán hoàn thành. Trong trường hợp này, việc thoả thuận mua bán bộ phận cơ thể người là hành vi trái pháp luật nhưng không cấu thành tội phạm.

d) Trường hợp một người bị mắc bệnh hiểm nghèo, biết mình không thể sống được đã chủ động tìm đến người có nhu cầu về bộ phận cơ thể người để bày tỏ nguyện vọng muốn cho bộ phận cơ thể người và nhận một khoản tiền để giúp đỡ gia đình thì hành vi của người có nhu cầu về bộ phận cơ thể người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Trường hợp môi giới, đưa người đi lao động nước ngoài trái pháp luật

a) Trường hợp người lợi dụng hoạt động đưa lao động ra nước ngoài đã nhận tiền của phía nước ngoài và môi giới đưa công dân Việt Nam ra nước ngoài để phía nước ngoài khai thác, bóc lột trái phép (ví dụ: sau khi ra nước ngoài người lao động bị buộc phải hoạt động mại dâm hoặc buộc phải làm những công việc nặng nhọc mà không được trả lương) và giữa người môi giới và phía nước ngoài đã có sự bàn bạc thống nhất thì người môi giới phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.

b) Trường hợp người thông qua hình thức môi giới, đưa người đi lao động ở nước ngoài đã chuyển giao người lao động cho phía nước ngoài để phía nước ngoài bán người lao động cho bên thứ ba hoặc khai thác, bóc lột trái với ý muốn của họ và người môi giới đã biết trước khi môi giới người đi lao động ở nước ngoài thì người môi giới phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.

c) Trường hợp người môi giới đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trái phép nhưng không quan tâm đến việc khi ra nước ngoài người lao động sẽ làm gì (chỉ thực hiện việc tìm và đưa họ ra nước ngoài dưới hình thức đi ra nước ngoài để làm việc) thì không phải hành vi mua bán người mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người môi giới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép (Điều 275), sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 266) hoặc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267).

d) Trường hợp người dùng thủ đoạn môi giới đưa người đi lao động ở nước ngoài để lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (sau khi nhận tiền của người lao động đã chiếm đoạt và bỏ trốn, không thực hiện việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài) thì tuỳ từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140).

4. Xác định hành vi mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

1. “Mua bán trẻ em” là một trong các hành vi sau đây được thực hiện đối với người dưới 16 tuổi, không phụ thuộc vào việc trẻ em bị mua bán có đồng tình hay không đồng tình:

a) Dùng bạo lực hoặc các hình thức ép buộc khác, lừa gạt, lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương về tâm sinh lý của trẻ em để chuyển giao trẻ em đó cho người khác lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Dùng bạo lực hoặc các hình thức ép buộc khác, lừa gạt, lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương về tâm sinh lý của nạn nhân để tiếp nhận trẻ em do người khác chuyển giao, có trả tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người chuyển giao;

c) Mua trẻ em để cưỡng bức lao động, bóc lột tình dục, lấy các bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

d) Mua trẻ em để bán lại cho người khác (không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào);

đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp trẻ em để chuyển giao cho người khác lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

2. “Đánh tráo trẻ em” là hành vi thay thế trẻ em này bằng trẻ em khác ngoài ý muốn của cha mẹ của một hoặc cả hai đứa trẻ.

3. “Chiếm đoạt trẻ em” là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, bắt trộm, lừa đảo, lợi dụng tình trạng khó khăn, sự lệ thuộc của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng trẻ em để chiếm đoạt trẻ em (tách trẻ em khỏi sự kiểm soát của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ em đó mà không được sự đồng ý của họ).

4. Người thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em mà các hành vi đó có liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện hoặc là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ là mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Người thực hiện hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em mà các hành vi đó độc lập với nhau thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh độc lập tương ứng với các hành vi phạm tội.

5. Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể

1. Trường hợp môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật

a) Trường hợp thông qua hình thức môi giới nuôi con nuôi, người môi giới đã chuyển giao trẻ em cho người khác để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác và có cơ sở để xác định rằng người môi giới biết việc nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột sức lao động của trẻ em, lạm dụng tình dục hoặc nhằm lấy bộ phận cơ thể của trẻ em thì người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật hình sự.

b) Trường hợp có căn cứ để xác định người môi giới nuôi con nuôi biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là sau khi được giao nhận đứa trẻ sẽ bị đem bán cho người khác để kiếm lời thì trong trường hợp này, người môi giới và người nhận nuôi con nuôi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo quy định tại Điều 151của Bộ luật hình sự.

c) Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để môi giới nhận nuôi con nuôi trái phép (không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho, nhận nuôi con nuôi) hoặc tạo điều kiện cho việc môi giới, nhận nuôi con nuôi trái phép, nhưng không biết mục đích của người nhận nuôi con nuôi là nhằm bóc lột sức lao động của trẻ em, lạm dụng tình dục, nhằm lấy bộ phận cơ thể của trẻ em hoặc nhằm bán lại trẻ em cho người khác thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em. Tuỳ từng trường hợp cụ thể, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281) hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi (Điều 283). Nếu trong việc cho, nhận nuôi con nuôi còn có hành vi sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và các hành vi này có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi đó còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh tương ứng quy định tại Điều 266 và Điều 267 của Bộ luật hình sự.

d) Trường hợp một người biết người khác thực sự có nhu cầu nuôi con nuôi (do hiếm muộn hoặc có lòng yêu trẻ) đã giới thiệu người đó với người muốn cho con của chính họ đi làm con nuôi để nhận một khoản tiền (do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, không có điều kiện nuôi dưỡng đứa trẻ, mong muốn đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt hơn), đồng thời người môi giới cũng được nhận một khoản tiền “thù lao” cho việc môi giới, thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự.

2. Trường hợp việc thỏa thuận mua bán được thực hiện khi đứa trẻ chưa ra đời (thai nhi) nhưng việc giao nhận đứa trẻ được thực hiện sau khi đứa trẻ được sinh ra thì hành vi này là hành vi mua bán trẻ em và người mua phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật hình sự.

3. Đối với người mẹ đã bán thai nhi trong bụng mình, nếu người mẹ do nhận thức kém bị lừa gạt, ép buộc hoặc rơi vào hoàn cảnh éo le, cùng quẫn buộc phải bán thai nhi thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp người mẹ có động cơ tư lợi rõ ràng, hám tiền, hám lợi, bán con để lấy tiền ăn chơi, tiêu xài hoặc bán con nhiều lần thì phải coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật hình sự.

4. Trường hợp cha mẹ của đứa trẻ ly hôn và một bên không có quyền nuôi con, nếu bên không có quyền nuôi con có hành vi chiếm đoạt đứa trẻ (là con mình) không được sự đồng ý của bên được nuôi con thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt trẻ em theo quy định tại Điều 151 của Bộ luật hình sự.

5. Trường hợp người bắt cóc trẻ em làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 của Bộ luật hình sự mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản theo quy địnhcủa Bộ luật hình sự.

6. Trường hợp mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em để lấy bộ phận cơ thể của trẻ em mà dẫn đến hậu quả làm cho trẻ em đó bị chết thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người với tình tiết định khung là “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” theo quy định của Bộ luật hình sự.

------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

>> Xem thêm:  Lỗi tai nạn giao thông chết người có bị khởi tố hoặc phải đền bù thế nào ?

2. Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em ?

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em tại điều 151 Công ty luật Minh Khuê khái quát về đặc điểm pháp lý và hình phạt của Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em:

Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

b) Chuyển giao hoặc tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

c) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Lợi dụng hoạt động cho nhận con nuôi để phạm tội;

c) Đối với từ 02 người đến 05 người;

d) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

đ) Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

e) Phạm tội 02 lần trở lên;

g) Vì động cơ đê hèn;

h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát;

e) Đối với 06 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

Tội mua bán, đánh cháo hoặc chiếm đoạt trẻ em có đặc điểm pháp lý như thế nào? Bị xử phạt ra sao?

Khách thể của tội phạm là nhân phẩm, danh dự của con người và sự phát triển bình thường về thể chất cũng như tâm lý của trẻ em. Tội này có đối tượng tác động là trẻ em độ tuổi dưới 16.

Mặt khách quan của tội phạm bao gồm ba hành vi tương ứng với ba tội:

+ Tội mua bán trẻ em: là dùng tiền của hoặc lợi ích vật chất để trao đổi, mua bán trẻ em dưới bất kỳ hình thức hoặc thủ đoạn nào. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi mua hoặc bán; từ khi nhận tiền của hoặc từ khi trả tiền để lấy trẻ em.

+ Đánh tráo trẻ em: Hành vi này thường xảy ra ở nhà hộ sinh khi trẻ mới sinh ra. Đánh tráo trẻ em là đổi đứa trẻ này để lấy đứa trẻ khác mà không được cha mẹ đứa trẻ đồng ý.

+ Chiếm đoạt trẻ em: là hành vi biến trẻ em không phải của mình trở thành của mình. Hành vi chiếm đoạt được thực hiện bằng bất cứ thủ đoạn nào như lừa đảo, cướp trẻ em, trộm cắp trẻ em. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt, không cần hậu quả tác hại xay ra.

Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội thấy trước hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em là nguy hiểm cho xã hội , trái pháp luật. Người phạm tội đã mong muốn làm được điều sai trái, nguy hiểm ấy nhằm đạt mục đích cá nhân của mình.

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có đủ độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự do pháp luật quy định.

Hình phạt:

- Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
+ Có tổ chức;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Vì động cơ đê hèn;
+ Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt nhiều trẻ em;
+ Để đưa ra nước ngoài;
+ Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;
+ Để sử dụng vào mục đích mại dâm;
+ Tái phạm nguy hiểm;
+ Gây hậu quả nghiêm trọng.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vai trò của hoạt động chơi đối với sự phát triển của trẻ.

3. Khởi tố một vụ buôn bán trẻ sơ sinh làm con

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh vừa khởi tố vụ án buôn bán trẻ em, bắt giữ hai nghi phạm là Phạm Thị Loát (sinh năm 1971) và Phạm Thị Lượt (1976), đều trú tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Theo báo Tuổi Trẻ ngày 12-5-2010, mới đây tại đường biên giới thuộc P.Ninh Dương, TP Móng Cái, cơ quan công an đã phát hiện và bắt quả tang hai nghi phạm trên đang đưa một bé trai khoảng 10 ngày tuổi chuẩn bị vượt biên sang Trung Quốc.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị Loát khai nhận do lấy chồng Trung Quốc, không có con nên đã nhờ em gái là Lượt tìm mua trẻ sơ sinh để nuôi. Khi đó, Lượt quen biết với một người tên Khổng Thị Thanh Thúy (ở Trảng Bom, Đồng Nai) sắp sinh con nhưng không muốn nuôi nên đã gạ gẫm trả 10 triệu đồng để lấy em bé. Sau đó, Lượt trao đổi với Loát và cả hai cùng vào Đồng Nai gặp Thúy trao tiền để đổi lấy con.

Theo qui định của pháp luật, việc mua bán trẻ em, dù là mua để làm con nuôi là trái pháp luật và có thể bị truy tố hình sự về tội mua bán trẻ em. Trên thực tế, những người hiếm muộn con có thể “dân sự hóa” việc mua con bằng cách nhận con nuôi thì sẽ hợp tình, hợp lý hơn.

Trong sự việc trên, theo luật sư Nguyễn Công Khán, công ty luật hợp danh Ecolaw, người mẹ bán con cũng có dấu hiệu phạm tội “bán trẻ em” theo qui định tại Bộ luật hình sự.


Khởi tố một vụ buôn bán trẻ sơ sinh làm con

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Qui định của pháp luật :

Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Vì động cơ đê hèn;
d) Đối với nhiều trẻ em;
đ) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
e) Để đưa ra nước ngoài;
g) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;
h) Để sử dụng vào mục đích mại dâm;
i) Tái phạm nguy hiểm;
k) Gây hậu quả nghiêm trọng.”
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ một năm đến năm năm.

( Theo Điều 120 Bộ luật hình sự)

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

>> Xem thêm:  Làm thế nào để đối mặt với khủng hoảng của con tôi ?

4. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi thì xử tù bao nhiêu năm ?

Kính gửi: công ty luật minh khuê - đoàn luật sư tp hà nộitôi đang muốn tư vấn và hỏi đáp về việc giải quyết vụ việc có nội dung như sau:(tôi xin nói nội dung chính theo đúng sự việc xảy ra)i. Nội dungvào chiều ngày xx/yy/zzzz đối tượng (a) đã nhờ đối tượng (b - có mối quan hệ họ hàng với a) đi đón 01 bé trai tại một cơ sở trông trẻ tư nhân, theo (a) nói: do bố mẹ đứa trẻ đang ly thân, đứa trẻ hiện đang chung sống cùng bố nên mẹ đứa trẻ nhờ (a) đón đứa trẻ hộ. Xin nói thêm : (a) có mối quan hệ họ hàng với chủ cơ sở trông trẻ, nên nói không thể đón. Khi đó, (b) xác định cũng có mối quan hệ với chủ cơ sở, nên (b) đã nhờ 01 người bạn là (c) đi đón hộ, khi nhờ (a),(b) cùng nói với (c) về lý mẹ đứa trẻ nhờ muốn đón đứa bé nhưng do cả (a),(b) có mối quan hệ với chủ cơ sở nên không thể xuất hiện và đón. Sau khi trao đổi (c) đồng ý. Khoảng 17h cùng ngày (a) điều khiển xe chỉ cơ sở trông trẻ cho (b) và (c) đồng thời nói: khi vào đón, phải nói đón hộ chị (z), do chị (z) thường xuyên đến đón đứa trẻ. Theo như đúng trao đổi, (b) điều khiển xe máy chở (c) đến cơ sở trông trẻ để (c) vào đón và nói đúng như những lời (a) dặn, còn (b) đứng cách đó vài mét để chở đi. Sau khi đón xong, (b) và (c) chở cháu bé đến địa điểm mà (a) hẹn trước cũng gần đó, sau đó (b),(c) đưa cháu bé cho (a) rồi ra về. Đối với đối tượng (a), sau khi có được cháu bé, (a) đã lai đến một địa điểm, theo (a) việc đưa cháu bé đến địa điểm này mục đích: trả thủ và hù dọa cơ sở trông trẻ rồi để cháu bé ở đó, và bỏ đi. Sau khi cơ quan công an vào cuộc, mọi việc được xác định, cháu bé đã được người dân gần đó đưa về trả lại cho gia đình. Đối với (a) sau khi bị bắt, xác định có dấu hiệu của tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, cơ quan csđt đã khởi tố bị can, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Bản thân gia đình tôi là đại diện của đối tượng (c):(c) không biết sự việc trên là do (a) đã dàn dựng và sắp đặt. Quá trình trước và sau khi thực hiện hành vi, không có nhu cầu mục đích cá nhân, mà chỉ nghĩ theo đó là giúp bạn, không biết mục đích chiếm đoạt trẻ em của (a)(b) bản thân chỉ nghĩ việc này là do người thân trong nhà nhờ, không biết mục đích chiếm đoạt trẻ em của (a)xin hỏi và tư vấn: vậy (c) có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không. Về tội danh gì. Sự việc gia đình tôi rất hoang mang, nên mong đoàn luật sư giúp đỡ ?

- Doan Son

Phút ân hận muộn màng của chàng trai chiếm đoạt trẻ em ? Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi thì xử tù bao nhiêu năm ?

Hình phạt hành vi mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Theo quy định tại Điều 153 – Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác chiếm giữ hoặc giao cho người khác chiếm giữ người dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

c) Đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng;

d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Đối với 06 người trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm"

Thứ hai: Điều 17 BLHS năm 2015 quy định về đồng phạm:

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

Thực chất, căn cứ theo nhưng quy định của pháp luật như đã viện dẫn ở trên thì C không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bởi những lập luận cơ bản sau:

Một là: Đồng phạm là một khái niệm pháp lý nói lên quy mô tội phạm, được thể hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia. Tuy nhiên, không phải cứ có nhiều người tham gia là đồng phạm, mà nhiều người tham gia đó phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nếu có nhiều người phạm tội nhưng không cùng thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm. Giữa những người phạm tội đó có sự bàn bạc, thống nhất trước khi thực hiện tội phạm hoặc có sự tiếp nhận về mặt ý chí giữa những người phạm tội.

Chế định đồng phạm quy định trong Bộ luật hình sự có hai loại mà theo khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp (phạm tội có tổ chức).

Đồng phạm giản đơn là trường hợp tất cả những người cùng thực hiện một tội phạm đều là người thực hành.

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự) là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu và là một hình thức đồng phạm, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

Hai là: Trong 4 yếu tố để cấu thành tội phạm thì yếu tố lỗi hay còn gọi là mặt chủ quan của tội phạm. Ở đây ý chí chủ quan của C chưa thỏa mãn với cả 2 lỗi cố ý và vô ý. Theo như bạn trình bày, diễn đạt lại thì ta sẽ gạt lỗi cố ý sang 1 bên chỉ xét lỗi vô ý thì C cũng không phạm tội do quá tự tin hoặc phạm tội do cẩu thả bởi C không tiếp nhận ý chí phạm tội của A và B, C không hướng đến cùng 1 tội phạm, và C không cần buộc phải biết hành vi của mình là đang phạm tội vì C không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn nhằm chiếm đoạt trẻ em.

Khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015 xác định người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Suy ra, C không phạm tội danh nào.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Sự gắn bó, tình cảm yêu thương của cha mẹ có thể giúp trẻ vượt qua được bệnh tật và phát triển tâm lý tốt

5. Hỏi cung trẻ em không có mặt người giám hộ là sai

Mới đây, Công an TP. Sóc Trăng đã xin lỗi gia đình một học sinh lớp 8 vì trước đó đã tạm giữ và lấy lời khai em T. mà không có mặt cha mẹ em. Việc công an tạm giữ, lấy lời khai người chưa thành niên mà không thông báo và không có mặt người giám hộ là sai pháp luật.

Nhiều vụ hỏi cung trẻ em không có người giám hộ

Báo Tuổi trẻ ngày 8-9-2009 đưa tin thượng tá Nguyễn Thanh Tiền - phó Công an TP Sóc Trăng đã trực tiếp nhận lỗi với gia đình em T..Tại buổi xin lỗi, thượng tá Tiền thừa nhận sai sót, để xảy ra sự việc đáng tiếc khi nghe con trai kêu mất điện thoại đã đưa cả nhóm thanh niên chơi chung với con mình về trụ sở Công an TP Sóc Trăng bằng xe jeep để ghi lời khai, trong đó có em T.. Đối với cán bộ lấy lời khai em T. mà không có cha mẹ em là sai nguyên tắc, nên xem đây là bài học kinh nghiệm sâu sắc.

Thực tế những vụ lấy khai trẻ em mà không có cha mẹ như vậy không phải là hiếm.

Ngày 22-1-2008, từ việc nghi ngờ 5 thanh thiếu niên (ở xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên và phường 10, TP Sóc Trăng ) trộm xe máy, công an phường 10 cũng đã "mời" các em về lấy lời khai và sau đó tiếp tục đưa về Công an TP Sóc Trăng để tiếp tục làm rõ. Tất cả quá trình trên đều không có người giám hộ của các em tham dự. Sau đó ngày 7-3-2009, phía công an cũng đã phải xin lỗi công khai.

Tháng 2-2008, một nữ sinh lớp 9 cũng bị rơi vào hoàn cảnh tương tự. Vì nghi ngờ em Trần Thị Thanh Thủy, học sinh lớp 9 Trường THCS An Khánh (huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre), lấy cắp tang vật vụ án là chiếc ĐTDĐ, Công an xã Phú Túc, huyện Châu Thành đưa Thủy về xã hỏi cung mà không có người giám hộ. Sau đó, em Thủy có dấu hiệu rối loạn tâm lý.

Tháng 4-2008, một vụ như vậy cũng đã xảy ra ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Tối ngày 3 và sáng ngày 4 tháng 4-2008, từ việc nghi ngờ lấy cắp một chiếc điện thoại di động, công an xã Tân Lý Đông đã cách ly em Thanh để "hỏi cung", khi công an xã đưa em Thanh, một học sinh mới 11 tuổi đi một số nơi để xác minh tối 3-4 và sáng 4-4 mà không thông báo cũng như không cho người thân của Thanh đi cùng. Vụ này, phía công an sau đó cũng đã phải xin lỗi.

Hỏi cung trẻ em không có mặt người giám hộ là sai

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật qui định phải có người giám hộ

Theo qui định của pháp luật, khi một người chưa đến tuổi thành niên (chưa được xem là có đủ năng lực hành vi dân sự) thì các giao dịch liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các em phải do “người giám hộ” (cha mẹ) các em thực hiện. ( Xin xem thêm về “năng lực hành vi dân sự” trong mục thuật ngữ pháp lý – trên website này)

Cụ thể, trong luật dân sự qui định người giám hộ của người chưa đủ mười lăm tuổi có nghĩa vụ “đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”.

Đó là trong lĩnh vực dân sự, hành chính.

Trong lĩnh vực hình sự, hoặc có “hơi hám” của hình sự ( tức có dấu hiệu phạm tội - theo qui định trong pháp luật hình sự) như các trường hợp nêu trên, pháp luật còn qui định rõ ràng và chặt chẽ hơn nhiều. Cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự qui định các cơ quan chức năng chỉ có quyền bắt, tạm giữa, tạm giam người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi những người này có dấu hiệu “phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”.

Ngoài ra, việc bắt, tạm giữ, tạm giam nhất thiết phải thông báo về cho gia đình, người đại diện hợp pháp của các em “ngay sau khi bắt, tạm giữ” và “ khi lấy lời khai, hỏi cung những người này nhất thiết phải có mặt đại diện của gia đình.

Chiếu theo các qui định của pháp luật, có thể thấy những sự việc như trên là rất đáng tiếc và có thể xem là những sai phạm hết sức ... cơ bản ! Và qua đó, không những đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các em, của gia đình các em mà thậm chí còn có thể để lại những hậu quả lâu dài, ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của các em. Mong sao những việc như vậy sẽ không còn xảy ra nữa.

--------------------------------
Qui định của pháp luật :


Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên
1. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ theo quy định, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.


2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ theo quy định, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.


3. Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam.


Việc lấy lời khai, hỏi cung người chưa thành niên


Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Đại diện gia đình có thể hỏi người bị tạm giữ, bị can nếu được Điều tra viên đồng ý; được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại; đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra.


Tại phiên toà xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, đại diện của nhà trường, tổ chức.


( Theo các điều 303 và 306 Bộ luật tố tụng hình sự)

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục đăng ký thành lập trung tâm ngoại ngữ cho trẻ em?