1. Mức án đối với tội đánh bạc ?

Thưa Luật sư: Dì của em là một người lao động chịu ảnh hưởng của Covid- 19, không có việc làm tạm thời nên một số chị em làm chung rủ nhau chơi đánh bạc. Tính luôn dì em là có tổng cộng tám người và khi bị bắt công an thu giữ trên chiếu bạc 18.500.000 đồng. Trong cuộc sống, dì có công việc làm ăn ổn định chỉ là tạm thời không có việc làm trong ngày nên mới ham vui. Không có tiền án tiền sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý hình sự. Như vậy có dì em bị phạt tù không? Có được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ không? Em có nên thuê luật sư để bào chữa không ạ?
Em xin cảm ơn!

196/TANDTC-PC hướng dẫn

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Điều 321, Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Theo Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ Luật hình sự quy định:

Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 1:

" Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó"

Căn cứ Khoản 3 Điều 1 :

“Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc” bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc"

Căn cứ Điểm a khoản 4 Điều 1:

"Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn tại khoản 3 Điều này"

Như vậy theo thông tin bạn cung cấp thì với giá trị tiền trên thì dì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngoài ra, có thể áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, dì của bạn có thể căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải, Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng... Ngoài ra còn có thể áp dụng các tình tiết khác theo Khoản 1 Điều 51, mỗi một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều thể hiện mức độ ảnh hưởng đối với việc quyết định hình phạt đối với từng hành vi phạm tội, vì thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi chưa đủ, do vậy, bạn có thể dựa vào căn cứ trên để đưa ra các luận điểm sao cho phù hợp với trường hợp của mình. Còn đối với việc thuê luật sư, tùy vào điều kiện hoàn cảnh của mình bạn có thể sử dụng dịch vụ của văn phòng luật sư mà bạn cho là uy tín.

>> Xem thêm:  Cá độ game có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

2. Tội đánh bạc qua mạng có vi phạm không ?

Văn bản có hiệu lực từ ngày 04 tháng 9 năm 2018 Trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của một số Tòa án về vướng mắc trong việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật việc áp dụng tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 196/TANDTC-PC
V/v áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của BLHS.

Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2018

Kính gửi:

- Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;
- Các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

Trong thời gian qua, Tòa án nhân dân tối cao nhận được ý kiến phản ánh của một số Tòa án về vướng mắc trong việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng vin thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật việc áp dụng tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

“Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự được hiểu là việc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành nên các chiếu bạc online hoặc sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc, gá bạc).

Việc người phạm tội sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (ví dụ: nhắn tin qua điện thoại, qua email, zalo, viber.... để ghi số đề, lô tô, cá độ đua ngựa...) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng vin thông và các phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Trên đây là ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao để các tòa án nghiên cứu, bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất trong xét xử./.


Nơi nhận:
- Như trên;
- Chánh án TANDTC (để báo cáo);
- Các Phó Chánh án TANDTC;
- Các Thẩm phán TANDTC;
- Cổng TTĐT TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT, PC&QLKH.

KT. CHÁNH ÁN
PHÓ CHÁNH ÁN




Nguyễn Trí Tuệ

3. Hướng dẫn về Tội đánh bạc sử dụng công nghệ cao

Ngày 4/9, Tòa án nhân dân tối cao đã phát đi Công văn 196/TANDTC-PC hướng dẫn áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321 (Tội Đánh bạc) và điểm c khoản 2 điều 322 (Tội Tổ chức đánh bạc) của Bộ luật Hình sự 2015.

Theo hướng dẫn của Công văn này:

- Tình tiết “Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” trong Tội đánh bạc và Tội tổ chức đánh bạc được hiểu là sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông và các phương tiện điện tử để đánh bạc trực tuyến (như hình thành các chiếu bạc online…);

- Việc sử dụng mạng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử khác như là phương tiện để liên lạc với nhau (nhắn tin qua điện thoại, email, zalo… để ghi số đề, lô tô) mà không hình thành nên các trò chơi được thua bằng tiền hoặc hiện vật trực tuyến thì không thuộc trường hợp nêu trên.

4. Sử dụng ma túy bị phạt thế nào?

Sử dụng ma túy có bị đi tù không?

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 không coi hành vi sử dụng ma túy là tội phạm. Người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử phạt hành chính.

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, hành vi sử dụng ma túy trái phép bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng - 01 triệu đồng.

Theo đó, người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử phạt hành chính đồng thời có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện khi thuộc đối tượng nghiện ma túy.

Thủ tục đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện

Điều 28 Luật Phòng, chống ma túy 2000 quy định, việc đưa người sử dụng ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn từ 01 - 02 năm đối với cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên, đã được giáo dục tại địa phương mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Theo đó, người nghiện ma túy được xác định như sau theo hướng dẫn tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA:

a) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy nhóm Opiats

Người được xác định là nghiện ma túy nhóm Opiats thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính về nghiện ma túy;

- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng ma túy từ 2 lần trở lên;

- Kết quả áp dụng nghiệm pháp Naloxone dương tính (+);

- Xét nghiệm dương tính với ma túy nhóm Opiats và có ít nhất 3 trong 12 triệu chứng của trạng thái cai (theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này).

b) Tiêu chuẩn xác định nghiện ma túy chất dạng Amphetamine

Người được xác định là nghiện ma túy tổng hợp chất dạng Amphetamine khi có ít nhất 3 trong 6 triệu chứng sau trong 12 tháng vừa qua:

- Có sự thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm giác bắt buộc phải sử dụng chất dạng Amphetamine;

- Khó khăn trong việc kiểm soát các hành vi sử dụng chất dạng Amphetamine như bắt đầu, chấm dứt hoặc mức độ sử dụng;

- Có trạng thái cai khi ngừng hoặc giảm sử dụng chất dạng Amphetamine;

- Có hiện tượng tăng dung nạp với chất dạng Amphetamine;

- Ngày càng trở nên thờ ơ với các thú vui hoặc sở thích khác;

- Tiếp tục sử dụng chất dạng Amphetamine mặc dù biết rõ về các hậu quả có hại.

Như vậy, có thể gửi yêu cầu đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, kèm theo kết quả xét nghiệm; Quyết định của UBND xã về việc giáo dục tại nơi cư trú nhưng vẫn còn nghiện đến Chủ tịch UBND cấp huyện nơi người đó cư trú.

5. Ghi lô đề bị xử phạt như thế nào?

5.1. Xử phạt vi phạm hành chính

Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về mức xử lý hành vi đánh bạc trái phép có đề cập đến hành vi mua các số lô, số đề; Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề.

Theo đó, hành vi ghi lô đề là một trong những biểu hiện của hành vi đánh bạc trái phép. Cụ thể, nếu một người có hành vi:

- Mua các số lô, số đề thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng

- Bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng

5.2. Chịu trách nhiệm hình sự

Vì ghi lô, đề là một hình thức của hành vi đánh bạc trái phép nên ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính thì nặng hơn người thực hiện hành vi ghi lô đề còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo đó, tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, dù dùng bất kỳ hình thức nào miễn là có dùng tiền hoặc hiện vật có giá trị để đánh bạc thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm với:

- Giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng

- Giá trị dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về tội đánh bạc hoặc Tội tổ chức đánh bạc, gá bạc chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Ngoài ra, người nào thực hiện đánh bạc trái phép còn có thể bị phạt cao nhất lên đến 07 năm tù giam và bị phạt tiền lên đến 50.000.000 đồng tùy vào mức độ và tính chất của hành vi phạm tội.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Chơi tú lơ khơ ăn tiền tại đám cưới thì bị xử phạt thế nào ?