1. Mục đích hình phạt của Bộ luật Hình sự là gì?

Bộ luật Hình sự 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, đã quy định rõ ràng về nhiệm vụ bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội và giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cho mọi người. Trong đó, Điều 31 là quy định trung tâm làm rõ mục đích của hình phạt.

Điều 31. Mục đích của hình phạt

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Từ nội dung này, có thể phân tích ba mục đích chính của hình phạt trong pháp luật Việt Nam:

  • Mục đích trừng trị: Hình phạt trước hết nhằm tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền và lợi ích của người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Mục đích này thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc “ác giả ác báo” và sự công bằng cho xã hội.  
  • Mục đích giáo dục: Mục đích giáo dục được thể hiện trên hai phương diện. Thứ nhất là giáo dục người phạm tội, giúp họ nhận ra lỗi lầm, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc xã hội. Thứ hai là giáo dục chung, thông qua việc áp dụng hình phạt, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và phòng ngừa tội phạm.
  • Mục đích phòng ngừa: Mục đích này bao gồm phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Phòng ngừa riêng là ngăn cản người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Phòng ngừa chung là răn đe, cảnh tỉnh những người khác trong xã hội, ngăn ngừa họ đi vào con đường phạm tội. 

Luật Minh Khuê phân tích chuyên sâu về mục đích phòng ngừa như sau:

Mục đích phòng ngừa riêng: Mục đích phòng ngừa riêng được thể hiện trước hết ở chỗ, hình phạt áp đụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục, ngăn ngừa họ phạm tội mới.

Nội dung cơ bản của mục này chính là sự tước bỏ, hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị áp dụng hình phạt, “hình phạt trước hết thể hiện sự lên án, sự phạt của Nhà nước, của xã hội đổi với người phạm tội. Nhưng đó không phải là sự lên án, sự phạt đơn thuần mà là biện pháp đặc biệt để răn đe (răn đe bằng tác động cưỡng chế nhà nước) để giáo dục, cải tạo (giáo dục, cải tạo bằng tác động cưỡng chế nhà nước) người bị kết án, ngăn ngừa họ phạm tội lại. Hình phạt cũng còn là biện pháp đặc biệt để hạn chế (có thể đến loại trừ) điều kiện phạm tội lại của người bị kết án”.

Mức độ của việc tước bỏ và hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp của họ phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vào nhân thân người phạm tội và những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Bên cạnh đó, việc quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội cũng phải căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đổi với pháp nhân thương mại (Điều 83 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). về nguyên tắc, hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Do đó, tội phạm càng nguy hiểm thì hình phạt áp dụng đối vói họ càng nghiêm khắc. Tuy nhiên, theo luật hình sự Việt Nam, trừng trị không được coi là mục đích chủ yếu của hình phạt. Mục đích chủ yếu trong phòng ngừa riêng của hình phạt chính là giáo dục họ “ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới (Điều 31 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong mục đích phòng ngừa riêng, trừng trị và giáo dục người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới là hai mục đích song song tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chỉ có thể đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu là giáo dục người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nếu hình phạt áp dụng đối với họ tương xứng với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Việc Nhà nước trừng trị người phạm tội một cách công minh là nội dung chủ yếu và quan trọng tạo cơ sở cho cải tạo, giáo dục người phạm tội; ngược lại, giáo dục người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội là phát huy tính tích cực của nội dung trừng trị. Như vậy, có thể nói rằng trong mối quan hệ giữa trừng trị và giáo dục của hình phạt thì: "trừng trị là mục đích nhưng đồng thời cũng là phương tiện để đạt mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt đoi với người phạm tội là giáo dục, cải tạo họ”.

Mục đích phòng ngừa chung: Theo luật hình sự Việt Nam thì hình phạt còn có mục đích: “Giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” (Điều 31 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Nội dung cơ bản của mục đích phòng ngừa chung thể hiện ở việc ngăn ngừa người hoặc pháp nhân thương mại khác phạm tội. Nhà nước quy định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đặc biệt khi áp dụng hình phạt đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội trong từng trường họp cụ thể không chỉ tác động trực tiếp đến chính bản thân người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội mà còn tác động đến tâm lý của các thành viên khác trong xã hội. Đối với các thành viên “không vững vàng”, hình phạt có tác dụng răn đe, ngăn ngừa họ phạm tội. Trong từng trường hợp, hình phạt làm cho các thành viên “không vững vàng” thấy trước được hậu quả pháp lý - Trách nhiệm hình sự mà họ tất yếu phải gánh chịu nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Với sự răn đe này, hình phạt có mục đích ngăn ngừa, giáo dục những thành viên “không vững vàng” tuân theo pháp luật, “từ bỏ ỷ định phạm tội hoặc thận trọng hơn trong xử sự để tránh xử sự của mình trở thành xử sự phạm tội".

Đối với các thành viên khác trong xã hội, hình phạt có mục đích giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật cho họ, động viên, khuyến khích đông đảo quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống tội phạm.

Để đạt được mục đích phòng ngừa chung của hình phạt, vấn đề đặt ra là phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp lý, văn hoá, giáo dục... Trong đó, biện pháp tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân là biện pháp hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn. Mục đích phòng ngừa chung của hình phạt chỉ đạt kết quả tốt khi quần chúng nhân dân hiểu biết pháp luật, thấy được sự cần thiết của việc tuân thủ pháp luật cũng như ý nghĩa xã hội của hình phạt.

Mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung là hai mặt của thể thống nhất (hình phạt). Chỉ coi trọng mặt này hay mặt kia đều có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc pháp chế khi quyết định hình phạt và làm cho mục đích của hình phạt bị triệt tiêu. Nếu quá coi trọng mặt trừng trị sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nặng, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án, làm mất đi những điều kiện thuận lợi để giáo dục họ. Ngược lại, nếu quá coi trọng mặt giáo dục thì cũng có thể sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nhẹ không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, do đó hình phạt đã tuyên không tạo ra được sự tác động cần thiết để răn đe, ngăn ngừa và giáo dục bộ phận công dân hoặc pháp nhân thương mại “không vững vàng” phạm tội, đồng thời làm mất đi lòng tin của nhân dân đối với sự công bằng của pháp luật và uy tín của Nhà nước, không động viên được quần chúng tham gia tích cực phòng ngừa và chống tội phạm.

Pháp luật hình sự Việt Nam không tuân theo một học thuyết hình sự đơn lẻ nào mà có sự tổng hòa một cách tinh tế. Điều 31 BLHS 2015 là minh chứng rõ ràng cho điều này. Mục đích "trừng trị" tương ứng với học thuyết Trả thù (Retribution), trong khi mục đích "phòng ngừa" tương đồng với học thuyết Răn đe (Deterrence). Điểm đặc trưng và nổi bật nhất là mục đích "giáo dục" và ngăn ngừa, tương ứng với học thuyết Phục hồi (Rehabilitation). Mối liên hệ này cho thấy pháp luật Việt Nam không coi trừng trị là mục đích tối thượng mà là phương tiện để đạt được mục tiêu giáo dục và phòng ngừa. Sự kết hợp này phản ánh quan điểm nhân đạo và tiến bộ, coi người phạm tội là đối tượng có khả năng cải tạo và tái hòa nhập, thay vì chỉ là kẻ thù của xã hội cần phải loại bỏ.  

 

2. Mối liên hệ giữa mục đích hình phạt và các loại hình phạt

Nguyên tắc về mục đích hình phạt tại Điều 31 chi phối toàn bộ các quy định về từng loại hình phạt cụ thể trong BLHS 2015.

Đối với hình phạt tử hình: Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Hành vi của người phạm tội là đặc biệt nghiêm trọng, gây hậu quả lớn mà toà án cho rằng cần phải cách ly vĩnh viễn người đó ra khỏi đời sống xã hội (mang tính trừng trị cao). Mục đích chính của hình phạt này mang tính răn đe đối với những hành vi gây nguy hiểm đặc biệt lớn của người phạm tội, khiến họ phải khiếp sợ và không dám thực hiện hành vi phạm tội. 

Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chỉ áp dụng cho những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tranh luận về việc duy trì hình phạt này vẫn tồn tại trong giới học thuật và thực tiễn.  

  • Quan điểm ủng hộ: Cho rằng hình phạt tử hình là hình phạt cuối cùng, có tác dụng răn đe mạnh mẽ, ngăn ngừa những cá nhân có ý định phạm tội nghiêm trọng. Nó cũng loại bỏ vĩnh viễn khả năng phạm tội mới của người bị kết án.  
  • Quan điểm phản đối: Hình phạt tử hình hoàn toàn không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án. Hơn nữa, nó tước đi quyền sống thiêng liêng, và nếu có oan sai, hậu quả là không thể khắc phục được.  

Việc duy trì hình phạt tử hình trong hệ thống pháp luật Việt Nam tạo ra một sự mâu thuẫn nội tại với nguyên tắc nhân đạo và mục tiêu giáo dục, phục hồi. Trong khi pháp luật ngày càng khoan hồng và tạo điều kiện cho người phạm tội làm lại cuộc đời, thì hình phạt tử hình lại hoàn toàn bác bỏ mục đích đó. Sự mâu thuẫn này cho thấy một sự giằng co giữa tính răn đe, nghiêm minh tuyệt đối và tính nhân đạo, phục hồi trong chính sách hình sự của nhà nước.

Đối với hình phạt tù: Đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, thể hiện rõ mục đích trừng trị thông qua việc tước tự do, cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Tuy nhiên, trong môi trường trại giam, mục đích giáo dục được ưu tiên thông qua các chế độ lao động, học tập, sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao. Quá trình này nhằm giúp phạm nhân nhận thức sai lầm, rèn luyện bản thân để chuẩn bị cho việc tái hòa nhập cộng đồng.

Đối với hình phạt ngoài tù (Án treo và Cải tạo không giam giữ): Đây là các biện pháp thể hiện rõ sự chuyển dịch và ưu tiên mục đích giáo dục và tái hòa nhập. Các hình phạt này không cách ly người phạm tội khỏi xã hội mà giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương giám sát, giáo dục. Việc khấu trừ thu nhập từ 5% đến 20% đối với hình phạt cải tạo không giam giữ vừa mang tính trừng trị nhẹ nhàng, vừa mang tính giáo dục trách nhiệm tài chính của người phạm tội đối với xã hội.

Mặc dù Điều 31 liệt kê các mục đích song song, nhưng trong thực tiễn áp dụng đối với từng loại hình phạt, có sự ưu tiên khác nhau. Đối với hình phạt tử hình, mục đích cải tạo, giáo dục không được đặt ra, mà chỉ còn lại mục đích phòng ngừa riêng và chung. Ngược lại, với các hình phạt ngoài tù, mục đích giáo dục và tái hòa nhập được đặt lên hàng đầu. Sự gia tăng các hình phạt ngoài tù trong BLHS 2015 cho thấy một xu hướng rõ rệt: hướng đến việc giảm thiểu việc cách ly xã hội, tạo điều kiện cho người phạm tội được lao động, học tập và chuộc lỗi trong môi trường cộng đồng. Điều này thể hiện sự ưu tiên ngày càng cao của mục đích giáo dục và phục hồi trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam.  

Hiệu quả của các biện pháp thay thế hình phạt tù: Việt Nam đã và đang tăng cường áp dụng các biện pháp thay thế hình phạt tù như án treo và cải tạo không giam giữ để giảm tải cho hệ thống trại giam và tạo cơ hội cho người phạm tội làm lại cuộc đời.

  • Án treo: Là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, áp dụng cho người phạm tội ít nghiêm trọng. Mục đích của án treo là không cách ly người phạm tội khỏi xã hội, giúp họ thay đổi cách sống và suy nghĩ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc áp dụng còn tràn lan, thiếu nhất quán, gây ảnh hưởng đến tác dụng răn đe.  
  • Cải tạo không giam giữ: Là một hình phạt chính, áp dụng cho tội phạm ít nghiêm trọng, cho phép người phạm tội lao động, học tập tại cộng đồng, đồng thời bị khấu trừ thu nhập. Biện pháp này giúp người phạm tội chứng tỏ sự hối cải và giảm chi phí giam giữ cho nhà nước. 

Để làm rõ hơn, bảng sau đây so sánh hai biện pháp này:

Tiêu chí Án treo Cải tạo không giam giữ
Bản chất

Biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện  

Một hình phạt chính trong hệ thống  

Đối tượng

Bị phạt tù không quá 3 năm, có nhân thân tốt và tình tiết giảm nhẹ 

Phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi làm việc/cư trú rõ ràng 

Nghĩa vụ

Phải chấp hành thời gian thử thách và tuân thủ các quy định  

Phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định và bị khấu trừ 5-20% thu nhập  

Hậu quả vi phạm

Có thể bị buộc chấp hành án tù giam nếu cố ý vi phạm  

Có thể bị buộc chấp hành án tù giam nếu cố ý vi phạm 

Mặc dù pháp luật đã có những quy định tiến bộ về các biện pháp thay thế, thực tiễn thi hành còn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là trong khâu giám sát, giáo dục. Thiếu một cơ chế rõ ràng cho việc giám sát người hưởng án treo trong thời gian từ khi tuyên án đến khi có quyết định thi hành án là một lỗ hổng nghiêm trọng. Điều này có thể dẫn đến việc người bị kết án không nhận thức đầy đủ nghĩa vụ của mình và tiếp tục vi phạm pháp luật. Khoảng trống này làm giảm hiệu quả của các biện pháp tiến bộ, cho thấy việc hoàn thiện không chỉ là ở văn bản pháp luật mà còn ở quy trình và cơ chế thực thi.

 

3. So sánh mục đích hình phạt trong BLHS và Luật thi hành án hình sự 2019

Luật Thi hành án hình sự 2019, có hiệu lực từ ngày 01/01/2020, là bước cụ thể hóa các nguyên tắc của BLHS 2015 vào thực tiễn.

  • Đồng bộ và Nhân văn: Luật Thi hành án hình sự 2019 tiếp tục khẳng định và làm rõ nguyên tắc nhân đạo, bảo đảm tốt nhất quyền con người của phạm nhân trong quá trình chấp hành án. Luật đã bổ sung nhiều quy định tiến bộ như quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, được nhận tiền qua đường bưu điện.  
  • Cụ thể hóa mục đích tái hòa nhập: Điểm mới nổi bật và quan trọng nhất của Luật Thi hành án hình sự 2019 là việc bổ sung quy định về tái hòa nhập cộng đồng tại Điều 45. Luật quy định rõ trách nhiệm của trại giam, công an cấp huyện trong việc tổ chức chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù. Các biện pháp này bao gồm hỗ trợ tâm lý, các thủ tục pháp lý, đào tạo nghề và tạo việc làm.  

BLHS 2015 quy định mục đích mang tính học thuyết, trong khi Luật Thi hành án hình sự 2019 mang tính thực tiễn, thủ tục hóa các mục đích đó. Sự bổ sung các quy định về tái hòa nhập cộng đồng thể hiện một bước tiến mạnh mẽ từ việc chỉ "giáo dục" sang "tái hòa nhập", nghĩa là từ quá trình cải tạo bên trong trại giam sang việc chuẩn bị cho cuộc sống ngoài cộng đồng. Sự đồng bộ hóa này là một bước tiến quan trọng. BLHS 2015 quy định mục đích "giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật"  và Luật Thi hành án hình sự 2019 biến mục đích này thành các hành động cụ thể như chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ tâm lý và đào tạo nghề. Điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa pháp luật nội dung (định hướng) và pháp luật tố tụng (thực thi), từ đó nâng cao tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống tư pháp.

Hiệu quả của mục đích giáo dục và tái hòa nhập không chỉ phụ thuộc vào pháp luật mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố xã hội, kinh tế và giáo dục.

  • Yếu tố cá nhân và tâm lý: Nhân cách và ý chí vươn lên của người phạm tội là yếu tố quyết định sự thành công. Nhiều người mãn hạn tù phải đối mặt với các phức cảm tâm lý như tự ti, mặc cảm , gây khó khăn lớn trong quá trình tái hòa nhập.  
  • Yếu tố gia đình và xã hội: Sự hỗ trợ, quan tâm của gia đình là động lực lớn nhất giúp người phạm tội cải tạo tốt và ổn định cuộc sống sau khi trở về. Ngược lại, sự kỳ thị, thiếu cảm thông của cộng đồng là rào cản lớn, có thể đẩy người mãn hạn tù trở lại con đường cũ.  
  • Yếu tố kinh tế và giáo dục: Trình độ học vấn thấp, thiếu nghề nghiệp ổn định, và lười lao động là những khó khăn phổ biến mà người chấp hành xong án phạt tù gặp phải. Các chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề, tạo việc làm và vay vốn đóng vai trò quan trọng, nhưng cần được thực thi hiệu quả hơn.  

Các yếu tố ảnh hưởng đến tái hòa nhập không chỉ nằm trong khuôn khổ pháp lý mà còn phụ thuộc vào các yếu tố xã hội và tâm lý. Điều này cho thấy hệ thống tư pháp hình sự truyền thống, vốn tập trung vào người phạm tội và nhà nước, có những hạn chế nhất định trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến nạn nhân, gia đình và cộng đồng. Pháp luật quy định mục đích giáo dục và tái hòa nhập , nhưng thực tiễn cho thấy các yếu tố ngoài luật pháp lại là rào cản chính. Điều này cho thấy chỉ dựa vào các biện pháp cưỡng chế nhà nước là chưa đủ, mà cần có sự tham gia của các bên liên quan để đạt được mục tiêu phục hồi toàn diện.  

Tóm lại, Pháp luật Việt Nam đã xây dựng một nền tảng vững chắc về mục đích của hình phạt, không chỉ nhằm trừng trị mà còn hướng đến giáo dục và phòng ngừa. Với  hệ thống pháp luật tương đối chặt chẽ và đề cao tính nhân đạo, tiến bộ, Quốc hội Việt Nam vẫn đang tiếp tục xây dựng một nền tư pháp không chỉ nghiêm minh mà còn thực sự hiệu quả, nhân văn và có khả năng chữa lành các tổn thương xã hội.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự và hình phạt, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng./.