Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

- Luật đất đai năm 2013

Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

2. Luật sư tư vấn:

Điều 12 Luật đất đai quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai, trong đó tại khoản 3 có quy định hành vi: 

“3. Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích” là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.

Do vậy, trong trường hợp này, việc sử dụng 150 m2 đất trồng cây lâu năm của bà A để xây nhà là hành vi sử dụng đất không đúng mục đích và là hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai.

Mức xử phạt đối với hành vi sử dụng đất trồng cây lâu năm vào mục đích xây nhà được quy định tại khoản 2 và 3 Điều 8 Nghị định 102/2014/NĐ-CP, cụ thể như sau:

2. Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta;

b) Phạt tiền từ trên 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 0,5 héc ta đến dưới 03 héc ta;

c) Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép từ 03 héc ta trở lên.

Như vậy, trong trường hợp này của bà A, mức xử phạt hành vi sử dụng đất sai mục đích với diện tích là 150 m2 là từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

 Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, người sử dụng đất còn bị buộc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 8 như sau:

     3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

     a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

     b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.”

     Về thẩm quyền xử phạt hành chính được quy định tại Điều 31 Nghị định 102/2014/NĐ-CP, cụ thể khoản 1 có quy định như sau:

     “1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền:

     a) Phạt cảnh cáo;

     b) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng;

     c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại Điểm b Khoản này;

     d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:

     Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Căn cứ quy định trên của pháp luật, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp này của bà A thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

Việc UBND xã ra quyết định hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi của bà A có thể do xác định chưa chính xác về hành vi vi phạm hoặc ban hành quyết định không đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, với việc thực hiện hành vi nêu trên, bà A đã vi phạm quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Mức phạt khi sử dụng sai mục đích sử dụng của đất?Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn luật Đất đai về mục đích sử dụng đất, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê