1. Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh để huy động vốn đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam?

Ngân hàng Phát triển Việt Nam có quyền và nghĩa vụ huy động vốn theo các quy định của pháp luật, nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính và thực hiện các hoạt động kinh doanh. Việc huy động vốn của ngân hàng này được quy định chi tiết tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 46/2021/NĐ-CP.

Theo đó, các hình thức huy động vốn được liệt kê rõ ràng như sau:

  1. Ngân hàng Phát triển có thể phát hành trái phiếu được bảo lãnh bởi Chính phủ. Điều này giúp tăng cường độ tin cậy từ phía các nhà đầu tư và nhận được sự hỗ trợ tài chính từ Chính phủ.
  2. Ngân hàng cũng có quyền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá bằng đồng Việt Nam để huy động vốn. Đây là hình thức thông thường và phổ biến trong hoạt động ngân hàng, nhằm thu hút vốn từ khách hàng và các tổ chức tài chính khác.
  3. Ngân hàng có thể vay Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước và nước ngoài. Việc vay vốn từ các tổ chức này giúp ngân hàng có nguồn tài trợ phong phú và đa dạng, từ đó tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ tài chính và đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
  4. Ngân hàng có thể vay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đây là một nguồn vốn quan trọng, được cung cấp bởi cơ quan quản lý tài chính cao cấp, giúp ngân hàng duy trì hoạt động và đáp ứng các yêu cầu vốn của mình.
  5. Ngân hàng có quyền huy động vốn từ các tổ chức khác trong và ngoài nước. Điều này cho phép ngân hàng tạo dựng mối quan hệ hợp tác và huy động vốn từ các đối tác quốc tế, mở rộng phạm vi hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ.
  6. Ngoài ra, ngân hàng có thể nhận tiền gửi ủy thác từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Đây là một hình thức huy động vốn an toàn và ổn định, giúp ngân hàng sử dụng tiền gửi của khách hàng để đầu tư và kinh doanh.

Cuối cùng, ngân hàng có quyền huy động các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật. Điều này cho phép ngân hàng linh hoạt trong việc tìm kiếm và sử dụng các nguồn vốn mới, đáp ứng nhanh chóng các yêu cầu tài chính và phát triển kinh doanh.

Ngân hàng Phát triển Việt Nam, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 46/2021/NĐ-CP, có quyền huy động vốn theo các hình thức đa dạng và phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình. Một trong những hình thức huy động vốn quan trọng mà Ngân hàng này có thể áp dụng là phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh. Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là một công cụ tài chính mà Ngân hàng sử dụng để thu hút vốn từ các nhà đầu tư. Điều đặc biệt ở hình thức này là sự cam kết và bảo lãnh từ phía Chính phủ, tạo ra sự tin cậy và an toàn cho nhà đầu tư. Khi Chính phủ bảo lãnh trái phiếu, nghĩa là Chính phủ đảm bảo cho việc trả lãi và hoàn vốn đúng hẹn cho các nhà đầu tư khi trái phiếu đáo hạn.

 

2. Nguyên tắc khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh để huy động vốn 

Nguyên tắc huy động vốn được quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 128/2021/TT-BTC nhằm đảm bảo hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Phát triển tuân thủ các quy định sau đây:

Ngân hàng Phát triển có quyền huy động các nguồn vốn theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 46/2021/NĐ-CP và cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:

  • Đảm bảo tuân thủ các giới hạn và tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Trong trường hợp Ngân hàng Phát triển phát hành trái phiếu và được Chính phủ bảo lãnh để huy động vốn, Ngân hàng Phát triển phải đảm bảo tuân thủ hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu được quyết định bởi Thủ tướng Chính phủ và áp dụng lãi suất phát hành theo khung lãi suất do Bộ Tài chính quy định.
  • Trường hợp Ngân hàng Phát triển huy động vốn thông qua việc vay tiền từ tổ chức tín dụng trong nước và tiền gửi hoặc vay từ tổ chức khác trong nước, Ngân hàng Phát triển phải tuân thủ quy định của pháp luật và lãi suất huy động không được vượt quá mức lãi suất huy động tiền gửi của tổ chức tín dụng cao nhất cùng kỳ hạn hoặc kỳ hạn tương đương (trong trường hợp không có cùng kỳ hạn), và lãi suất này phải được công bố trên trang thông tin điện tử chính thức hoặc trong văn bản thông báo lãi suất của bốn ngân hàng sau: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam.
  • Trường hợp Ngân hàng Phát triển vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lãi suất vay vốn sẽ được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Ngân hàng Phát triển chịu trách nhiệm về việc quyết định huy động các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định, trường hợp Ngân hàng Phát triển Việt Nam phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh để huy động vốn thì phải đảm bảo tuân thủ hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Ngân hàng Phát triển do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Theo quy định của pháp luật, khi Ngân hàng Phát triển Việt Nam quyết định phát hành trái phiếu và được Chính phủ bảo lãnh để huy động vốn, họ phải tuân thủ một số quy định cụ thể để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình này.

Đầu tiên, ngân hàng phải đảm bảo rằng họ tuân thủ hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu mà Chính phủ đã quyết định. Điều này đảm bảo rằng ngân hàng chỉ phát hành số trái phiếu được phép theo quy định và không vượt quá giới hạn đã được xác định. Quy định này giúp ngăn chặn nguy cơ quá mức phát hành trái phiếu gây ra các vấn đề tài chính và ảnh hưởng đến ổn định kinh tế.

Hơn nữa, lãi suất của các trái phiếu được phát hành cần phải tuân thủ theo khung lãi suất được quy định bởi Bộ Tài chính. Điều này đảm bảo tính nhất quán và công bằng trong việc xác định lãi suất cho các nhà đầu tư và đồng thời giúp hỗ trợ việc quản lý và điều chỉnh chính sách tài chính của quốc gia.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng quy định và thực hiện có thể thay đổi tùy theo tình hình kinh tế và chính trị của quốc gia. Do đó, các quy định này có thể được điều chỉnh và cập nhật để phản ánh đúng tình hình thị trường và nhu cầu kinh tế.

Tổng quan lại, việc tuân thủ các quy định về hạn mức bảo lãnh và lãi suất khi phát hành trái phiếu là rất quan trọng để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và ổn định trong hoạt động tài chính của ngân hàng và cả hệ thống tài chính quốc gia.

 

3. Nguồn vốn tự có của Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 46/2021/NĐ-CP, việc xác định và tính toán vốn tự có của Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện dựa trên các số liệu trong báo cáo tài chính riêng lẻ. Cụ thể, vốn tự có này bao gồm các thành phần sau:

- Vốn điều lệ: Là số vốn mà ngân hàng đã cam kết và góp vào để thành lập và hoạt động.

- Các quỹ:

  • Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Là khoản tiền được dành riêng để dự phòng và bổ sung vào vốn điều lệ theo quy định của pháp luật.
  • Quỹ đầu tư phát triển: Là khoản tiền được sử dụng để đầu tư vào các dự án và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
  • Quỹ dự phòng tài chính: Là khoản tiền dành riêng để dự phòng và đối phó với các rủi ro tài chính có thể phát sinh.

- Chênh lệch dương do đánh giá lại tài sản: Bao gồm chênh lệch giữa giá trị tài sản được đánh giá lại và giá trị ban đầu, bao gồm cả tài sản cố định và các khoản góp vốn đầu tư dài hạn.

- Chênh lệch thu chi dương chưa phân phối lũy kế: Là chênh lệch dương giữa các khoản thu và chi chưa được phân phối trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

- Các khoản phải giảm trừ khi xác định vốn tự có gồm:

  • Vốn góp vào công ty con, công ty liên kết theo quy định của pháp luật: Là số vốn mà ngân hàng đã đầu tư vào các công ty con hoặc công ty liên kết theo quy định của pháp luật.
  • Chênh lệch thu chi âm lũy kế: Là chênh lệch âm giữa các khoản thu và chi chưa được phân phối tích lũy lại từ các kỳ kinh doanh trước đó.
  • Chênh lệch âm do đánh giá lại tài sản: Là chênh lệch âm giữa giá trị tài sản được đánh giá lại và giá trị ban đầu, bao gồm cả tài sản cố định và các khoản góp vốn đầu tư dài hạn.

Tổng hợp lại, việc xác định và tính toán vốn tự có của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định của Nghị định này đòi hỏi sự chính xác và minh bạch trong việc quản lý tài chính và đảm bảo tính ổn định của hệ thống ngân hàng.

Xem thêm:

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!