1. Nghỉ việc không lương là gì?

Nghỉ việc không lương là nghỉ việc ngoài ngày phép và các ngày nghỉ lễ tết theo quy định - nói cách khác, người lao động sẽ xin nghỉ từ nửa ngày, 1 ngày trở lên và không được tính lương những ngày đó. Nghỉ việc không lương có thể là quyết định chủ quan của người lao động, đề xuất và xin được công ty, tổ chức chấp thuận cho nghỉ; trong những trường hợp bất khả kháng như dịch bệnh, thiên tai hay tình hình kinh doanh khó khăn thì bản thân doanh nghiệp, người sử dụng lao động cũng có thể ban hành chính sách cho một số người lao động nghỉ việc không lương (vì ít việc, không có doanh thu...).

Có thể hiểu, nghỉ việc không lương được xem như thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, một bên xin phép và một bên phê duyệt quyết định nghỉ làm ngắn hạn không lương.

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết: Trường hợp người lao động nghỉ việc riêng được hưởng nguyên lương

 

2. Khi nào người lao động có thể xin nghỉ việc không lương?

Tùy vào điều kiện và tình huống cá nhân cũng như các quy định cụ thể của doanh nghiệp mà bạn xin nghỉ việc không lương khi cần. Mỗi người đều sẽ có lý do khác nhau để xin nghỉ nhưng về cơ bản, bạn không nên lạm dụng, xin nghỉ quá nhiều vì sẽ ảnh hưởng xấu tới hiệu suất, chất lượng công việc cũng như hình ảnh chăm chỉ, nỗ lực của bản thân.

Người lao động có thể xin nghỉ việc không lương trong các trường hợp sau:

- Bận việc riêng không thể không vắng mặt.

- Ốm đau.

- Tham dự các kì thi, chương trình học nâng cao năng lực cần nghỉ để hoàn thành.

- Đi du lịch, nghỉ dưỡng tự túc (không phải chế độ của doanh nghiệp, tổ chức),...

 

3. Người lao động nghỉ việc không hưởng lương có được đóng bảo hiểm thất nghiệp không?

Việc đóng bảo hiểm thất nghiệp là trách nhiệm bắt buộc của cả người lao động và người sử dụng lao động như đã nêu ở trên khi hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động có hiệu lực. Vậy trong trường hợp người lao động nghỉ việc không hưởng lương như đã nêu tại mục 1 của bài viết thì có được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp không? Trả lời cho câu hỏi này thực chất cũng chính là trả lời cho câu hỏi thời gian người lao động nghỉ không hưởng lương có được tính là thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ngay sau đây:

Tại Điều 42 Quyết định số 595/QĐ-BHXH có quy định rõ cách xác định thời gian người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp. Về xác định thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong trường hợp nghỉ không hưởng lương được chia làm hai trường hợp nhỏ sau đây:

 

3.1. Nghỉ việc không hưởng lương do hưởng chế độ bảo hiểm xã hội

Thứ nhất, trong trường hợp người lao động phải nghỉ việc không hưởng lương do hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người sử dụng lao động và người lao động không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp. Thời gian này sẽ không được tính là thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp.

+ Trong trường hợp chưa hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định mà lao động nữ vẫn đi làm thì kể từ thời điểm đi làm đó, người lao động nữ và người sử dụng lao động sẽ phải đóng bảo hiểm thất nghiệp. 

Thứ hai, trong trường hợp người lao động phải nghỉ việc không hưởng lương do hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người sử dụng lao động và người lao động không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

 

3.2. Nghỉ việc không hưởng lương không thuộc trường hợp theo chế độ bảo hiểm xã hội

Trong trường hợp người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động do bị tam giam, tạm giữ hoặc tạm đình chỉ công tác để điều tra, xem xét kết luận có vi phạm hay không vi phạm pháp luật thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng bảo hiểm thất nghiệp:

+ Nếu sau khi kết thúc thời gian điều tra mà có quyết định bởi cơ quan có thẩm quyền xác định bị oan, bị sai, không vi phạm pháp luật thì người sử dụng lao động và người lao động phải thực hiện việc đóng bì bảo hiểm thất nghiệp trong những khoảng thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động. 

+ Nếu sau khi kết thúc thời gian điều tra mà cơ quan có thẩm quyền có căn cứ cho rằng người lao động có tội thì người lao động và người sử dụng lao động sẽ không thực hiện việc đóng bù bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động

Còn trong những trường hợp còn lại, người lao động nghỉ việc không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì tại Quyết định số 595/QĐ-BHXH hiện nay chưa có quy định nào về việc ngừng đóng bảo hiểm thất nghiệp hay tiếp tục đóng bảo hiểm thất nghiệp. Mà tại khoản 4 Điều 42 Quyết định số 595 chỉ quy định rằng người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Do vậy có thể kết luận rằng, người lao động và người sử dụng lao động nghỉ việc không hưởng lương trong những trường hợp còn lại (ngoài những trường hợp nêu trên) thì vẫn sẽ được đóng bảo hiểm thất nghiệp như bình thường. 

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, việc người lao động nghỉ việc không hưởng lương có được đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc người lao động nghỉ việc không hưởng lương vì lý do gì, trong trường hợp như thế nào. Người lao động và cả người sử dụng lao động cần phải xem xét kỹ các trường hợp cụ thể và đối chiếu với quy định pháp luật đã được Luật Minh Khuê nêu ra trong bài viết để có giải pháp xử lý việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo đúng quy định pháp luật, tránh trường hợp xảy ra tranh chấp. 

 

4. Nghỉ việc không lương dài ngày có ảnh hưởng tiêu cực gì?

Mặc dù nghỉ việc không lương có thể không bị giới hạn quá nhiều nhưng nhìn chung, thường xuyên xin nghỉ việc không lương mang đến nhiều hệ lụy tiêu cực, ảnh hưởng tới cả người lao động và người sử dụng lao động, cụ thể như sau:

Với người lao động:

- Nghỉ việc không lương khiến bạn bị giảm thu nhập hàng tháng (bao gồm ngày công cơ bản và phụ cấp chuyên cần - nếu có).

- Gián đoạn công việc, ảnh hưởng tới hiệu suất công việc (trong nhiều trường hợp).

- Có thể dồn việc, gây áp lực về lượng công việc cho đồng nghiệp.

- Ảnh hưởng tới hình ảnh chuyên nghiệp của bạn trong mắt sếp và đồng nghiệp.

- Có thể tác động tiêu cực tới đánh giá nhân viên, các đề xuất và quyết định tăng lương cũng như khiến bạn bị giảm/ mất cơ hội thăng tiến.

Với người sử dụng lao động:

Trong khi đó, việc người lao động chủ động xin nghỉ việc không lương, nếu nghỉ dài ngày và quá thường xuyên chắc chắn cũng ảnh hưởng tới người sử dụng lao động:

- Thiếu nhân sự, giảm hiệu suất.

- Quản lý phải đột xuất điều chỉnh, điều phối phân công công việc trong bộ phận, thậm chí là điều chỉnh cả hoạt động hợp tác với khách hàng, đối tác hay các bộ phận khác trong công ty.

Ngay cả khi vì khó khăn về hoạt động kinh doanh, do các vấn đề bất khả kháng như dịch bệnh, thiên tai mà công ty buộc phải cho người lao động nghỉ việc không lương dài hạn thì về bản chất, họ cũng phải đối diện với vô số áp lực và nguy cơ, chẳng hạn như sau khi ổn định và đề nghị người lao động có thể nghỉ luôn dẫn tới thiếu nhân sự, xử lý các vấn đề liên quan tới chế độ bảo hiểm, hình ảnh thương hiệu tuyển dụng của công ty trong mắt ứng viên cũng bị ảnh hưởng (vì ứng viên có thể nghi ngại về môi trường, khả năng hoạt động tạo doanh thu dài hạn của công ty). Rõ ràng là, nghỉ việc không lương dài hạn, xin nghỉ không lương thường xuyên là không tốt và cả người lao động lẫn người sử dụng lao động cần cân nhắc kỹ lưỡng với quyết định này.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm một số bài viết sau đây để nắm rõ hơn thông tin pháp lý về bảo hiểm thất nghiệp:

Tự ý nghỉ việc không báo trước có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp năm 2023 là bao nhiêu tiền?

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê, nếu quý khách hàng còn bất kỳ vướng mắc nào, vui lòng liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Trân trọng cảm ơn!