Thực trạng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con vẫn còn nhiều tồn tại, chưa thỏa đáng. Trong những năm gần đây, số vụ án ly hôn tăng đáng kể và kéo theo đó số vụ việc có yêu cầu giải quyết cấp dưỡng cho con cũng tăng cao. Bên cạnh những vụ việc được giải quyết thỏa đáng, đảm bảo quyền lợi cho con khi cha mẹ ly hôn, thì vẫn còn tồn tại nhiều vụ việc cha hoặc mẹ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quyết định của Tòa án một cách tự giác. Nhiều người chỉ thực hiện một phần hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ này, gây ra nhiều hệ lụy cho các nạn nhân và xã hội. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trước hết là các quy định của pháp luật chưa rõ ràng, chưa chặt chẽ, tiếp đó là công tác thực thi chưa đạt hiệu quả cao. Ở bài viết này tác giả sẽ đưa ra quan điểm cá nhân về những vướng mắc của pháp luật và đề xuất sửa đổi để thực thi hiệu quả hơn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Luật sư tư vấn:

2.1. Cấp dưỡng là gì?

Cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý thể hiện mối quan hệ ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người không sống chung với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản hoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình. Cấp dưỡng còn là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

2.2. Đặc điểm của cấp dưỡng là gì?

Thứ nhất, quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ nhân thân gắn liền với tài sản trong pháp luật hôn nhân và gia đình.

Đặc điểm này được hiểu rằng, quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ pháp lý được điều chỉnh bởi pháp luật hôn nhân và gia đình, quan hệ này đòi hỏi chủ thể phải trực tiếp thực hiện bằng tài sản.

Điều đó thể hiện ở chỗ: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu cấp một khoản tiền hoặc hiện vật nhất định để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Hơn thế nữa, nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao nghĩa vụ cho người khác vì nó gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Mặt khác, người được cấp dưỡng cũng không được đơn phương hoặc thỏa thuận thay thế nghĩa vụ cấp dưỡng này bằng một nghĩa vụ khác, cũng như không được chuyển giao quyền của mình cho người khác.

Thứ hai, quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng.

Có thể hiểu đặc điểm này như sau: Quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng là cơ sở hình thành quan hệ cấp dưỡng.

Đặc điểm này được thể hiện ở chỗ: (1) Hôn nhân là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý giữa vợ và chồng, đồng thời làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, trong đó có quan hệ cấp dưỡng. (2) Huyết thống cũng là quan hệ pháp lý được pháp luật ghi nhận, thể hiện sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, trong đó có nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ và quyền được cấp dưỡng của con. (3) Nuôi dưỡng cũng là một quan hệ pháp lý được pháp luật hôn nhân và gia đình ghi nhận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa người nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng, trong đó có nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền được cấp dưỡng.

Thứ ba, quan hệ cấp dưỡng mang tính chất có đi có lại, thể hiện mối quan hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể nhưng không diễn ra đồng thời, không có tính tuyệt đối và cũng không có tính chất đền bù tương đương.

Đặc điểm này được thể hiện ở chỗ: (1) Quan hệ cấp dưỡng mang tính chất có đi có lại nhưng không tuyệt đối và không có tính chất đền bù tương đương. Điều này xuất phát từ chính bản chất của quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng là ràng buộc nhau bởi tình máu mủ, tình nghĩa… Cho nên pháp luật quy định các chủ thể tham gia quan hệ này không vì mục đích nhận sự đáp lại, và không buộc phải hoàn lại những gì đã nhận bằng một giá trị tương đương. Đây cũng là lý do khiến quan hệ cấp dưỡng không mang tính tuyệt đối. (2) Quan hệ cấp dưỡng không diễn ra đồng thời. Theo quy định của pháp luật, quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh trong những trường hợp cụ thể và trong những quan hệ nhất định nên nó diễn ra không đồng thời. Chẳng hạn khi ly hôn sẽ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nhưng không đồng thời phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ của người con, mà nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ sẽ phát sinh khi con không trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ trong trường hợp cha mẹ rơi vào hoàn cảnh đau ốm, túng thiếu mà con có khả năng cấp dưỡng…

Thứ tư, quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ phái sinh, nó chỉ phát sinh khi có những điều kiện nhất định, tức là khi quan hệ nuôi dưỡng không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi có những điều kiện nhất định bởi vì: Xét về bản chất, nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra nhằm mục đích tương trợ khi một bên thiếu thốn, không đầy đủ về phương diện vật chất. Chính vì sự không đầy đủ hay thiếu thốn đó mà nghĩa vụ cấp dưỡng mới có cơ sở để phát sinh.

Điều kiện làm phát sinh quan hệ cấp dưỡng là người cần được cấp dưỡng rơi vào những trường hợp khó khăn, túng thiếu thật sự theo quy định của pháp luật.

2.3. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn là gì?

Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn là một nghĩa vụ pháp lý mà cha hoặc mẹ bắt buộc phải làm đối với con, nếu con là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, khi không là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi đã chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng việc đóng góp tiền hoặc hiện vật tương ứng với nhu cầu thiết yếu của con đồng thời phù hợp với khả năng thực tế của mình để bù đắp những tổn thất về mặt vất chất cho con khi con không được chung sống đồng thời với cha và mẹ.

2.4. Vướng mắc trong thực tiến áp dụng pháp luật về cấp dưỡng cho con khi ly hôn

2.4.1. Vướng mắc về đối tượng được cấp dưỡng

Quy định của pháp luật hiện hành về đối tượng được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn cơ bản đã hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy còn một số vướng mắc như sau:

Một là, chưa quy định rõ điều kiện “không có khả năng lao động” của người được cấp dưỡng.

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào lý giải thế nào là “không có khả năng lao động”. Thực tế cho thấy cách hiểu của Tòa án khi áp dụng đã bỏ sót đối tượng con đã thành niên nhưng đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề….

Trên thực tế có rất nhiều trường hợp con đã đủ 18 tuổi nhưng lại đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng đào tạo theo hệ tập trung, không có thời gian để tham gia lao động tạo ra thu nhập. Mà nếu có thời gian tham gia lao động, nhưng với quỹ thời gian ít ỏi thì thu nhập các con nhận được cũng sẽ không đủ để trang trải cho nhu cầu thiết yếu của bản thân, chưa kể đến điều đó có thể ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các con. Vậy trong trường hợp này có được coi là không có khả năng lao động hay không?

Việc quy định quá chung chung như vậy lại không có văn bản hướng dẫn chi tiết đã dẫn đến cách hiểu không đúng và đã không giải quyết được những vấn đề phát sinh trong thực tiễn làm ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi chính đáng của các con. Hơn nữa, khi con vào học chuyên nghiệp nhu cầu thiết yếu của các con có phần tăng cao nhưng lại không được cấp dưỡng nữa là một điều khó khăn cho cả con và người trực tiếp nuôi dưỡng

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

Thứ hai, chưa quy định rõ điều kiện “có tài sản để tự nuôi mình” của người được cấp dưỡng.

Theo quy định tại Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014 thì khi cha mẹ ly hôn, con đã thành niên không có khả năng lao động nhưng lại có tài sản để tự nuôi mình thì con cũng sẽ không được cấp dưỡng. Vậy, căn cứ nào để Tòa án có thể xác định người được cấp dưỡng có tài sản để tự nuôi được mình? Hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể nào. Đã có nhiều tác giả đưa ra quan điểm về việc làm rõ “có tài sản để tự nuôi mình” nhưng đó chỉ là những quan điểm khoa học của cá nhân không thể sử dụng làm căn cứ khi áp dụng pháp luật.

Do vậy, để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể, cần có quy định rõ về điều kiện “có tài sản để tự nuôi mình” của người được cấp dưỡng để đảm bảo áp dụng thống nhất trong thời gian tới.

2.4.2. Vướng mặc trong quy định về phương thức cấp dưỡng một lần

Thứ nhất, Căn cứ xác định khoản cấp dưỡng một lần

Thông thường nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện trong một khoảng thời gian khá dài, có những trường hợp không xác định được thời hạn (con thành niên mất hoàn toàn khả năng lao động và đương nhiên không có tài sản để tự nuôi mình) thì việc ấn định mức cấp dưỡng đủ cho cả thời hạn cấp dưỡng là điều cần thiết. Do nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng có thể những điều khách quan khác liệu rằng khoản cấp dưỡng một lần được xác định dựa trên nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và khả năng của bên có nghĩa vụ cấp dưỡng được xác định tại thời điểm Tòa án giải quyết liệu rằng đã đủ chưa?

Thứ hai, việc quản lý khoản cấp dưỡng một lần

Giả sử trong trường hợp con được cấp dưỡng là người chưa thành niên nhưng người con đó đủ 16 tuổi và dưới 18 tuổi (theo khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015) thì số tiền cấp dưỡng là tài sản riêng của người con, do đó mà người con có quyền quản lý. Thực tế có rất nhiều trường hợp, cha mẹ ly hôn dẫn đến tâm lý tiêu cực ở những đứa con. Có những trường hợp bất mãn và trở nên sa đọa, hư hỏng, tự ý sử dụng số tiền cấp dưỡng này một cách không có kế hoạch mà ăn xài phung phí, trụy lạc vào những cuộc chơi trong thời gian ngắn. Hậu quả cuối cùng lại dồn lên vai người trực tiếp nuôi con.

2.5. Kiến nghị sửa đổi vướng mắc về cấp dưỡng cho con khy ly hôn

2.5.1. Hướng dẫn chi tiết nội dung quy định về đối tượng cấp dưỡng

Bổ sung giải thích cho hai cụm từ con đã thành niên “không có khả năng lao động” và “không có tài sản để tự nuôi mình” quy định tại Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014.

Phải hiểu đúng về thuật ngữ này mới thống nhất trong cách giải quyết cũng như không bỏ sót đối tượng cần được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn.

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

Theo tác giả, cần bổ sung giải thích như sau:

+ Con đã thành niên “không có khả năng lao động” là người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng có khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần; bị bệnh tật thường xuyên đau ốm; dành toàn bộ thời gian tham gia học tập tại các cơ sở đạo tạo như trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề… dẫn đến không thể tham gia vào các quan hệ lao động tạo thu nhập đủ để nuôi sống bản thân.

Cách lý giải này sẽ không còn bỏ sót đối tượng là con đã thành niên những lại đang học trong các trường phổ thông, trung học, đại học và dạy nghề…phải dành toàn bộ thời gian để học tập không thể tham gia lao động tuy có đủ điều kiện về sức khỏe và có đầy đủ năng lực hành dân sự. Đồng thời cũng sẽ không đánh đồng tất cả những người có khuyết tật về thể chất hoặc tinh thần là người không có khả năng lao động giống như quy định tại Luật HN&GĐ năm 2000.

+ Con đã thành niên “không có tài sản để tự nuôi mình” là con từ đủ 18 tuổi trở lên, thực tế không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó không sinh lợi hoặc có sinh lợi và đã khai thác theo khả năng của chủ sở hữu nhưng vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mình.

2.5.2. Bổ sung quy định thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Cần bổ sung quy định hướng dẫn về thời điểm thực hiện việc cấp dưỡng một cách rõ ràng và bao quát hơn, cần quy định thời điểm cấp dưỡng đối với trường hợp ly hôn do một người bị Tòa án tuyên bố mất tích sau đó lại trở về. Theo đó, thời điểm thực hiện việc cấp dưỡng phải tính từ thời điểm thực tế người mất tích đã trở về để đảm bảo quyền lợi của con, tránh trường hợp người đó trở về mà không phải cấp dưỡng cho con khoảng thời gian đó. Do đó, cần quy định về thời điểm thực hiện việc cấp dưỡng cho con như sau:

Thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám họ của họ thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thời điểm đó được tính từ ngày ghi trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc thời điểm người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về trên thực tế; khoản tiền cấp dưỡng mà người đó chưa thực hiện trước đây sẽ được dùng dể hoàn trả những chi phí cần thiết về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho người trực tiếp nuôi con. Hoặc Tòa án nên linh hoạt khấu trừ tài sản riêng của người mất tích để cấp dưỡng theo phương thức cấp dưỡng một lần cho con. Bởi lẽ, Điều 69 BLDS năm 2015 đã quy định tài sản của người bị tuyên bố mất tích vẫn được quản lý: “trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì tài sản của người bị tuyên bố mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản”.

2.5.3. Sửa đổi, bổ sung quy định về phương thức cấp dưỡng một lần

Thứ nhất, cần bổ sung quy định hướng dẫn căn cứ riêng để xác định mức cấp dưỡng trong trường hợp cấp dưỡng một lần. Bởi qua các năm, các chi phí cũng sẽ tăng theo giá thành chung của thị trường nên việc ấn định mức cấp dưỡng cho một tháng tại thời điểm Tòa giải quyết rồi nhân với tổng số thời gian cần cấp dưỡng sẽ không giải quyết được các vấn đề phát sinh trong cuộc sống của con sau này.

Thứ hai, bổ sung hướng dẫn về quản lý khoản cấp dưỡng một lần. Tác giả đề xuất quy định như sau: Theo yêu cầu của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, khoản cấp dưỡng một lần có thể được gửi tại ngân hàng hoặc được giao cho người được cấp dưỡng, người giám hộ của người được cấp dưỡng quản lý, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Người được giao quản lý khoản cấp dưỡng một lần có trách nhiệm bảo quản tài sản đó như đối với tài sản của chính mình và chỉ được trích ra để bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng

Thứ ba, bổ sung quy định về cấp dưỡng bổ sung khi đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng một lần. Trong đó quy định rõ điều kiện người được cấp dưỡng có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ cấp dưỡng bổ sung.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Quy định của luật hôn nhân gia đình về quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Con 7 tuổi có quyền lựa chọn ở với bố hoặc với mẹ khi bố mẹ ly hôn không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Đối tượng được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn là ai?

Trả lời:

Đối tượng được cấp dưỡng được quy định tại Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014 như sau: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.

Theo đó, đối tượng được cấp dưỡng gồm: Con chưa thành niên và con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Câu hỏi: Có những phương thức cấp dưỡng nào?

Trả lời:

Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:

“Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Câu hỏi: Thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là khi nào?

Trả lời:

Luật HN&GĐ năm 2014 không có quy định cụ thể nào về căn cứ xác định thời điểm bắt đầu cấp dưỡng. Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”. Suy luận từ quy định trên thì thời điểm cấp dưỡng sẽ được xác định là ngày mà người không trực tiếp nuôi con không sống chung với con.