Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi năm 2010

2. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là gì?

Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.

Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng

Trong giai đoạn giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT), bên mua bảo hiểm sẽ phải cung cấp khá nhiều thông tin về nhân thân như tuổi tác, tình trạng sức khoẻ, điều kiện tài chính, gia đình… cho doanh nghiệp bảo hiểm. Bên cạnh đó, các thông tin mà bên mua bảo hiểm sẽ ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận yêu cầu tham gia bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và định giá phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm cũng như các quyết định về sau này của doanh nghiệp bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Điểm b khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (Luật KDBH) quy định, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ “kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm”; khoản 1 Điều 19 Luật KDBH quy định: “Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, … bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó”. Qua những quy định này cho thấy, nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm là nghĩa vụ bắt buộc.

Khác với các loại hợp đồng khác, đối tượng của HĐBHNT là tính mạng, tuổi thọ của con người – là những thứ vô hình, không thể định lượng bằng mắt thường hay những phương pháp định giá thông thường. Bản chất của BHNT là sự để dành quyền lợi tài chính của người mua bảo hiểm bằng việc chuyển giao những rủi ro liên quan đến tính mạng, tuổi thọ của người được bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm. Những rủi ro này là những rủi ro sẽ hình thành trong tương lai, chưa tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng. Do đó, những thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm xác định được phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm đối với bên mua bảo hiểm và vì vậy, những thông tin này đòi hỏi phải mang tính trung thực và đầy đủ. Dựa vào những thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ dự đoán rủi ro, từ đó quyết định có chấp nhận hay không chấp nhận bảo hiểm.

Ngoài ra, nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm còn được quy định tại Bộ quy tắc điều khoản bảo hiểm nhân thọ mẫu 2009.

Hiện nay, đa số công ty BHNT sử dụng hình thức cung cấp thông tin thông qua bảng câu hỏi. Khi bên mua bảo hiểm nộp hồ sơ tham gia hợp đồng BHNT, đại diện doanh nghiệp bảo hiểm hay đại lý bảo hiểm sẽ yêu cầu bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm trả lời trung thực các thông tin liên quan vào tờ khai thông tin cá nhân. Trong đó, đa số các câu hỏi sẽ được trả lời dưới dạng “có/không”; nếu câu trả lời là có thì người cung cấp thông tin được yêu cầu mô tả chi tiết về thông tin đó. Các thông tin trong câu hỏi sẽ bao gồm những thông tin như tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ, thu nhập cá nhân, tình trạng sức khoẻ của bản thân và tình trạng sức khoẻ của những người thân trong gia đình của người được bảo hiểm.

Thông tin mà doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm cung cấp có thể chia làm ba nhóm chính sau: thông tin về nhân thân; thông tin về sức khoẻ; các thông tin liên quan khác. Trong đó, thông tin về sức khoẻ là nhóm thông tin mà bên mua bảo hiểm có khả năng sai sót cao nhất và cũng là nhóm thông tin thường xuyên được các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng làm lý do từ chối thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm.

Bên cạnh đó, hầu hết các thông tin mà bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm đều là các thông tin cá nhân của người được bảo hiểm. Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ phải bảo mật các thông tin của bên mua bảo hiểm; không được tiết lộ các thông tin cho bên thứ ba trừ khi có sự chấp thuận bằng văn bản của bên mua bảo hiểm (trừ các trường hợp các thông tin được đưa cho bên thứ ba nhằm thẩm định, kiểm tra). Nếu bên mua bảo hiểm phát hiện về sự vi phạm của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền khởi kiện doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

4. Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm

Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm ký kết hợp đồng BHNT thì cả hai bên chủ thể sẽ thực hiện hợp đồng. Hợp đồng BHNT là hợp đồng theo mẫu, bên mua bảo hiểm không được thay đổi các thông tin trong bộ quy tắc và điều khoản. Tuy nhiên, đối với các thông tin mà bên mua bảo hiểm đã cung cấp thì bên mua bảo hiểm vẫn có quyền thay đổi trong thời gian thực hiện hợp đồng nếu cảm thấy các thông tin đó đã không còn phù hợp. Điều này cho thấy nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm vẫn còn tiếp tục trong quá trình thực hiện hợp đồng BHNT.

Luật KDBH cho phép bên mua bảo hiểm thay đổi các thông tin mà mình đã cung cấp trong hợp đồng tại quá trình giao kết hợp đồng. Ngoài ra, đối với các trường hợp mà sự thay đổi của người được bảo hiểm ảnh hưởng đến mức độ rủi ro được bảo hiểm thì BMBH và người được bảo hiểm có nghĩa vụ phải thông báo sự thay đổi cho doanh nghiệp bảo hiểm để đưa ra phương án phù hợp cho HĐBHNT của người đó. Điều 22 Luật Luật KDBH quy định:

“1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.

2. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm”.

Như vậy, có thể thấy rằng, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp các thay đổi về thông tin của những yếu tố làm cơ sở tính phí bảo hiểm. Tuy nhiên, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện nay chưa quy định cụ thể về những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm. Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm đã đưa các yêu cầu đối với những thay đổi trong hợp đồng BHNT vào Bộ quy tắc và điều khoản của DNBH. Ví dụ, Điều 8 của Bộ quy tắc và điều khoản bảo hiểm nhân thọ mẫu 2009 quy định về những thay đổi trong hợp đồng BHNT như sau:

“8.1 Thay đổi người thụ hưởng

Trong thời gian hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực và người được bảo hiểm còn sống, bên mua bảo hiểm có thể chỉ định hoặc yêu cầu thay đổi người thụ hưởng của hợp đồng bảo hiểm bằng cách thông báo bằng văn bản đến doanh nghiệp bảo hiểm. Việc chỉ định hoặc thay đổi này chỉ có hiệu lực khi doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận hoặc xác nhận việc thay đổi đó.

8.2 Các nội dung thay đổi khác

Doanh nghiệp bảo hiểm quy định cụ thể về việc thay đổi địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, định kỳ đóng phí, số tiền bảo hiểm (tăng giảm số tiền bảo hiểm) và các nội dung thay đổi khác của hợp đồng bảo hiểm, điều khoản về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, điều khoản về bên mua bảo hiểm dự phòng”.

Mặc dù, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm có quy định riêng về điều kiện thay đổi trong HĐBH, nhưng nhìn chung, những thay đổi sau đây thường được chấp nhận:

Thứ nhất, thay đổi số tiền bảo hiểm: doanh nghiệp bảo hiểm cho phép bên mua bảo hiểm được thay đổi số tiền bảo hiểm sau khi đã ký kết hợp đồng. Vì vậy, căn cứ vào khả năng tài chính của cá nhân, bên mua bảo hiểm có thể yêu cầu thay đổi số tiền bảo hiểm cao hơn hoặc thấp hơn mức bảo hiểm đã đóng. Tuy nhiên, đối với yêu cầu tăng số tiền bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thẩm định lại hồ sơ của bên mua bảo hiểm và dự đoán lại các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai đối với người được bảo hiểm.

Thứ hai, thay đổi tuổi của người được bảo hiểm: Theo quy định của Điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH, nếu một người không biết được ngày tháng sinh chính xác của mình mà chỉ biết năm sinh thì tuổi của họ sẽ được tính vào ngày 1 tháng 1 của năm đó. Tuy nhiên, nếu người đó tìm được các giấy tờ chứng minh được ngày tháng năm sinh của người đó thì họ phải cập nhật lại trong HĐBHNT. Vì vậy, trường hợp tuổi của người được bảo hiểm thay đổi so với tuổi khai tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp thông tin về sự thay đổi đó.

Thứ ba, thay đổi nơi cư trú của người được bảo hiểm: Nếu người được bảo hiểm thay đổi nơi cư trú hoặc không còn cư trú tại Việt Nam thì bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo về sự thay đổi này cho doanh nghiệp bảo hiểm. Trong trường hợp này, doanh nghiệp bảo hiểm có thể đưa ra các quyết định sau: tiếp tục duy trì hợp đồng bảo hiểm và giữ nguyên mức phí bảo hiểm như cũ, hoặc tiếp tục duy trì hợp đồng với mức phí bảo hiểm tăng tương ứng với rủi ro phát sinh hoặc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm và trả lại giá trị hoàn lại sau khi trừ các chi phí liên quan.

Thứ tư, thay đổi nghề nghiệp của người được bảo hiểm: người được bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo về sự thay đổi này để doanh nghiệp bảo hiểm có thể đưa ra được quyết định phù hợp với sự thay đổi của người được bảo hiểm.

Thứ năm, thay đổi giới tính: Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cho phép người chuyển giới được chuyển đổi giới tính và có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi. Đối với việc một người thay đổi giới tính so với giới tính lúc tham gia ký kết hợp đồng thì người đó có nghĩa vụ phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết để DNBH tiến hành xác định lại các rủi ro vì cùng một độ tuổi thì rủi ro giữa người nam và người nữ sẽ khác nhau. Vì vậy, việc thông báo về thay đổi giới tính của người được bảo hiểm rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thẩm định lại hồ sơ và dự đoán các rủi ro sẽ hình thành đối với người được bảo hiểm.

Thứ sáu, thay đổi các thói quen sinh hoạt của người được bảo hiểm: Việc thay đổi các thói quen sinh hoạt như uống rượu, bia, hút thuốc lá hay tham gia những môn thể thao mạo hiểm như leo núi, nhảy dù sẽ làm giảm sức khoẻ của người được bảo hiểm và đồng thời làm gia tăng rủi ro đối với người được bảo hiểm. Chính vì lẽ đó, khi có những thay đổi này, người được bảo hiểm cần thông báo kịp thời để doanh nghiệm bảo hiểm tiến hành đánh giá lại rủi ro và có thể tiếp tục bảo hiểm với các điều kiện không đổi hoặc tăng phí bảo hiểm rủi ro hoặc chấm dứt hợp đồng.

Thứ bảy, thay đổi về bệnh lý: Sinh lão bệnh tử là điều mà con người không thể tránh khỏi, việc người được bảo hiểm sau khi tham gia bảo hiểm mới mắc bệnh cần điều trị là điều có thể xảy ra. Vì vậy, nhằm tránh việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin thì bên mua bảo hiểm cần thông báo về tình trạng thay đổi bệnh lý của người được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Ngoài ra, việc thay đổi tình trạng sức khoẻ của người được bảo hiểm còn có thể ảnh hưởng đến phí bảo hiểm của hợp đồng BHNT nên bên mua bảo hiểm cần thông bào kịp thời để doanh nghiệp bảo hiểm có thể đưa ra quyết định về phí bảo hiểm.

5. Nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra

Sau khi giao kết hợp đồng, bên mua bảo hiểm sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình là đóng phí bảo hiểm để duy trì hợp đồng BHNT. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, BMBH sẽ tiến hành thông báo cho người được bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ chi trả số tiền bảo hiểm đối với các rủi ro mà bên mua bảo hiểm phải gánh chịu. Tuy nhiên, nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm không chỉ dừng lại ở giai đoạn thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm còn phải thực hiện cung cấp các thông tin và giấy tờ liên quan theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.

Hiện nay, Luật Kinh doanh bảo hiểm cũng như các văn bản pháp luật liên quan không quy định về các thông tin hay những loại giấy tờ nào mà bên mua bảo hiểm cần phải cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Tuy nhiên, BHNT là một lĩnh vực đặc thù nên các thông tin mà các công ty BHNT yêu cầu khách hàng cung cấp khi xảy ra sự kiện bảo hiểm là tương đối giống nhau. Ví dụ, trường hợp người được bảo hiểm gặp tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp các chứng từ: biên bản vụ việc do công an lập, giấy nhập viện (nếu có) và các hoá đơn nằm viện. Trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong, bên mua bảo hiểm cần cung cấp trích lục khai tử, các chứng từ y tế, biên bản sự việc dẫn đến tử vong, hộ khẩu đã cắt của người được bảo hiểm. Bên cạnh đó, đối với các trường hợp nằm viện, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp các hoá đơn, chứng từ y tế nhằm làm cơ sở tính số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho bên mua bảo hiểm.

Để tránh tình trạng khách hàng trục lợi bảo hiểm nên khi bên mua bảo hiểm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về sự kiện bảo hiểm để yêu cầu được thanh toán quyền lợi bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp các chứng từ. Các chứng từ do bên mua bảo hiểm cung cấp giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm có thể thẩm định hồ sơ và đưa ra quyết định chi trả bảo hiểm dễ dàng hơn. Bên cạnh các chứng từ do bên mua bảo hiểm cung cấp, doanh nghiệp bảo hiểm phải tự mình tiến hành xác minh lại các thông tin được cung cấp, tìm hiểu về nguyên nhân xảy ra sự kiện bảo hiểm, các thông tin liên quan đến sự kiện bảo hiểm và cá thông tin liên quan đến người được bảo hiểm, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với trường hợp người được bảo hiểm gặp tai nạn, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu cung cấp các chứng từ liên quan như: biên bản sự việc do Công an lập, các chứng từ y tế liên quan đến việc nhập viện điều trị, hoá đơn y tế và các giấy tờ nhân thân như chứng minh nhân dân và hộ khẩu thường trú.

Thứ hai, đối với trường hợp bên mua bảo hiểm nhập viện vì vấn đề sức khoẻ, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp trích lục bệnh án, giấy ra viện, các kết quả xét nghiệm y tế, đơn thuốc của bác sĩ và các hoá đơn y tế.

Thứ ba, đối với trường hợp người được bảo hiểm tử vong, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp thông tin cũng như giấy tờ liên quan đến sự kiện người được bảo hiểm tử vong. Trích lục khai tử được cung cấp nhằm giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm xác định người tử vong chính xác là người được bảo hiểm và nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm. Nếu nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm là do tai nạn thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ yêu cầu biên bản sự việc do cơ quan có thẩm quyền lập để kiểm tra nguyên nhân xảy ra sự kiện bảo hiểm. Nếu nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm là do bệnh lý, các giấy tờ mà bên mua bảo hiểm được yêu cầu cung cấp bao gồm: hồ sơ bệnh án, giấy nhập viện, các kết qủa xét nghiệm liên quan. Việc cung cấp các loại giấy tờ này không chỉ giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm xác định được nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm mà còn giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm kiểm tra được người được bảo hiểm có tồn tại bệnh từ trước khi tham gia BHNT hay không. Nếu người được bảo hiểm có tồn tại bệnh từ trước thì bên mua bảo hiểm đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin và doanh nghiệp bảo hiểm có thể từ chối thanh toán quyền lợi bảo hiểm đối với trường hợp này. Ngoài ra, thông thường doanh nghiệp bảo hiểm sẽ từ chối chi trả bảo hiểm cho các trường hợp người được bảo hiểm dương tính với HIV/AIDS nên các thông tin này còn giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm xác minh được nguyên nhân tử vong của người được bảo hiểm có phải do HIV hay không.

Những phân tích trên đây cho thấy pháp luật về KDBH quy định khá cụ thể về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm trong từng giai đoạn cũng như hậu quả pháp lý nếu vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập